Thuyền lớn, buồm căng, gió lộng

Địa tạng Bồ tát Bổn thệ lực kinh – Chương 1

Posted in Cóp nhặt linh tinh by Peony Hằng Phương on 25 Tháng Mười Hai 2014

KINH ĐA TNG

Quyn Thưng

Phm Th Nht

Thn Thông Trên Cung Tri Ðao Li

Tôi nghe như vy: Mt thu n, ti cung Tri Ðao Li, Ðc Pht vì Thánh Mu mà thuyết Pháp.

Lúc y, không th nói hết không th nói hết tt c chư Pht và Ði B Tát Ma Ha Tát trong vô lưng thế gii mưi phương đu đến hi hp tán thán Ðc Pht Thích Ca Mâu Ni có th trong đi ác Ngũ Trưc mà hin sc Ði Trí Hu, Thn Thông không th nghĩ bàn điu phc nhng chúng sanh cang cưng, khiến cho h biết đưc pháp kh, pháp vui. Ri mi Ngài đu sai th gi đến vn an Ðc Thế Tôn. 

Ý nghĩa:

Tôi nghe như vầy: đây là câu nói mở đầu cho mọi cuốn kinh phật giáo. Lý do là vì ngài anan làm thị giả của Phật. Khi phật sắp nhập niết bàn, ngài anan lúc đó được chỉ bày hỏi xem khi kết tập kinh điển thì dùng lời gì để chứng minh kinh. Phật có dạy phải dùng Tôi nghe như vầy.

Tức không phải anan nói, không phải đạo sư, không phải tăng ni, không phải pháp sư thuyết kinh, mà là ngài anan được nghe đức phật thuyết. Đây là phần mở đầu khá mới so với các tôn giáo tồn tại cùng thời đó, hay bắt đầu kinh kệ bằng chữ hữu- có, hoặc vô- không.

Một thuở nọ, tại cung Trời Ðao Lợi, Ðức Phật vì Thánh Mẫu mà thuyết Pháp: Thánh mẫu đây chỉ Mada phu nhân, người sinh ra đức Phật. Sau khi sinh con, trong 7-10 ngày, Mada phu nhân không bệnh tật mà mất. Theo tích truyện Phật ra đời ở sườn phải, vì vậy có pháp sư nói rằng có thể do mất máu nhiều. Kì thực mọi đức phật ra đời thì thân mẫu đều mất trong một thời gian ngắn sau đó, thậm chí khi đạo sư Liên hoa sanh nói về các tàng thư terma được chôn giấu, thì những terton- người sẽ phát hiện ra các tàng thư đó trong thời đại về sau- đều có dấu hiệu cha hoặc mẹ mất sớm. Lại nói về mada phu nhân, người vốn là một bồ tát thị hiện, từng phát nguyện lâu xa nhiều đời kiếp về trước làm mẹ của phật. Chuyện đức phật vì thánh mẫu là câu mở đầu, đây là điều chứng tỏ kinh địa tạng bổn nguyện này là một hiếu kinh chân chính. Thời này là khi phật sắp nhập niết bàn ( tức bỏ xác thân tứ đại – nói cách dung tục là chết). Khi đã chứng quả, khi viên mãn thành tựu, Phật nhớ tới mẹ, vì mẹ lên cung trời trung tâm cõi giới để thuyết phap biểu lộ lòng hiếu kính. Trong phật giáo không phải chỉ cơm bưng nước rót cho cha mẹ mới là hiếu, mà cho cha mẹ hiểu pháp, nghe pháp chính là đại hiếu.

Lúc ấy, không thể nói hết tất cả chư Phật và Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát trong vô lượng thế giới ở mười phương đều đến hội họp tán thán Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể ở trong đời ác Ngũ Trược mà hiện sức Ðại Trí Huệ, Thần Thông không thể nghĩ bàn điều phục những chúng sanh cang cường, khiến cho họ biết được pháp khổ, pháp vui. Rồi mỗi Ngài đều sai thị giả đến vấn an Ðức Thế Tôn: Có mấy việc cần giải thích. Theo phật giáo đại thừa thì không chỉ có một đức phật Thích ca Mâu ni tại ấn độ, cũng không chỉ có hành tinh trái đất này có sự sống, mà trong vũ trụ, có rất nhiều thế giới, các thế giới có các quốc độ cực lớn, và ở các thế giới đó có các đức phật và các bồ tát nhiều vô lượng vô biên. Do nghiệp của chúng sanh mà các thế giới đó có hình thức, đời sống khác nhau. Thời của đức Thích ca mâu ni giáo hóa cách đây 2500 năm là thời ngũ trược ác thế, khi con người sống không thuận theo chính pháp. Thế giới này được gọi là Ta bà, tức Kham nhẫn, ý chỉ con người sống khổ, luôn phải nhẫn chịu. Có rất nhiều thế giới khác đẹp hơn, mà đức phật Thích ca lựa chọn trái đất này để giáo hóa thì đó là sự may mắn cho chúng ta, cũng là sự từ bi của phật. Giống như bây giờ Việt Nam nghèo hơn các nước âu mỹ, mà có nhiều nhà khoa học thành tài vẫn từ bỏ điều kiện sống cao để về cống hiến cho tổ quốc vậy. Thế nên các chư bồ tát và chư phật cùng ngợi khen đức Thích Ca , và vấn an ngài.

By gi, Ðc Như Lai mm cưi, phóng ra trăm ngàn muôn c vng mây sáng r ln như là vng mây sáng Ði Viên Mãn, vng mây sáng Ði T Bi, vng mây sáng Ði Trí Hu, vng mây sáng Ði Bát Nhã, vng mây sáng Ði Tam Mui, vng mây sáng Ði Kiết Tưng, vng mây sáng Ði Phưc Ðc, vng mây sáng Ði Công Ðc, vng mây sáng Ði Quy Y, vng mây sáng Ði Tán Thán. 

Ðc Pht phóng ra không th nói hết vng mây sáng r như thế ri li phát ra các âm thanh vi diu, như là tiếng Ðàn Ba La Mt, tiếng Thi Ba La Mt, tiếng Sn Ð Ba La Mt, tiếng T Ly Da Ba La Mt, tiếng Thin Ba La Mt, tiếng Bát Nhã Ba La Mt, tiếng T Bi, tiếng H X, tiếng Gii Thoát, tiếng Vô Lu, tiếng Trí Hu, tiếng Ði Trí Hu, tiếng Sư T Hng, tiếng Ði Sư T Hng, tiếng Mây Sm, tiếng Mây Sm Ln. 

Phóng hào quang và phát ra âm thanh vi diệu là thần thông Phật thường biểu lộ trước khi chỉ bày một giáo pháp lớn. Tất cả những danh từ chỉ hào quang, âm thanh, chính là lời ngợi khen ý nghĩa của bộ kinh địa tạng bồ tát bổn nguyện này. Những hào quang và âm thanh này, cũng là hào quang và âm thanh của bộ kinh, của những người đọc kinh và thực tập theo kinh điển… Nhờ đọc kinh, làm theo những gì kinh dạy, mà mỗi người sẽ trở nên viên mãn với lòng từ bi lớn lao hơn, có được trí tuệ nhiều hơn, hiểu được lý lẽ, qua đó mà tạo ra những điều thiện, từ đó tạo phước đức, công đức và sự may mắn. Từ bi, hỉ xả, thiền định, giải thoát, trí huệ… đó là những gì mà người làm theo kinh sẽ có được. Kinh này, giống như chúa tể mạnh mẽ, giống như áng mây tưới những giọt nước mát lành xuống cho đồng ruộng khô cằn.

Khi Ðc Pht phát ra không th nói hết âm thanh như thế xong t thế gii Ta Bà và các cõi nưc phương khác, có vô lưng c Thiên, Long, Qu, Thn cũng đến t tp ti cung tri Ðao Li. Ðó là thiên chúng tri T Thiên Vương, tri Ðao Li, tri Tu Dim Ma, tri Ðâu Sut Ðà, tri Hóa Lc, tri Tha Hóa T Ti, tri Phm Chúng, tri Phm Ph, tri Ði Phm, tri Thiu Quang, tri Vô Lưng Quang, tri Quang Âm, tri Thiu Tnh, tri Vô Lưng Tnh, tri Biến Tnh, tri Phưc Sanh, tri Phưc Ái, tri Qung Qu, tri Vô Tưng, tri Vô Phin, tri Vô Nhit, tri Thin Kiến, tri Thin Hin, tri Sc Cu Cánh, tri Ma Hê Th La, cho đến tri Phi Tưng Phi Phi Tưng X. Tt c Thiên chúng, Long chúng, cùng các chúng Qu, Thn đu đến hi hp.

Khi Ðức Phật phát ra không thể nói hết  âm thanh như thế xong từ thế giới Ta Bà và các cõi nước phương khác: âm thanh và ánh sáng của Phật, người đã chứng nhận được pháp thân vô biên, thì không bị ngăn cách bởi khoảng cách, vật cản thông thường, nên có thể đến với tất cả pháp giới. Pháp giới có thể hiểu thô thiển là tất cả các vũ trụ. Như vậy là ánh sáng và âm thanh của Phật có thể chạm đến mọi cõi giới, mọi chúng sinh, mọi vật thể. Vậy tại sao chúng ta không thấy ánh sáng đó, câu trả lời sẽ có ở chương khác. Ở đây nói năng lực của Phật vô hạn vô biên.

có vô lượng ức Thiên, Long, Quỷ, Thần cũng đến tụ tập tại cung trời Ðao Lợi. : Người trần mắt thịt thì chỉ thấy thân phật là thân da thịt xương tóc… chứ không như các dạng sinh vật khác có thể thấy ánh sáng hào quang và nghe âm thanh để ứng hợp mà đến. Người trần không có thần thông đến cung trời đao lợi. Đây là tầng trời trung tâm, xung quanh trời này có 4 khu vực, mỗi khu vực có 8 vùng trời khác nhau, nên đây gọi là trời thứ 33. ở trời này có người chỉ huy tối cao, mà theo tôn giáo trung quốc gọi là ngọc hoàng đại đế.

Ðó là thiên chúng ở trời Tứ Thiên Vương, trời Ðao Lợi, trời Tu Diệm Ma, trời Ðâu Suất Ðà, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại, trời Phạm Chúng, trời Phạm Phụ, trời Ðại Phạm, trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quang, trời Quang Âm, trời Thiểu Tịnh, trời Vô Lượng Tịnh, trời Biến Tịnh, trời Phước Sanh, trời Phước Ái, trời Quảng Quả, trời Vô Tưởng, trời Vô Phiền, trời Vô Nhiệt, trời Thiện Kiến, trời Thiện Hiện, trời Sắc Cứu Cánh, trời Ma Hê Thủ La, cho đến trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Tất cả Thiên chúng, Long chúng, cùng các chúng Quỷ, Thần đều đến hội họp.: để hiểu hơn về các tầng trời này thì các mẹ nên google hoặc nghe băng giải thích của pháp sư Tịnh Không, đối với các danh từ cũng như vậy ạ, vì giải thích thì mất thời gian mà không thể nào tập trung được vào ý chính của kinh. Tóm lại đều là các vị thần vị trời năng lực vô biên, hơn hẳn con người.

Lại có những vị thần ở các cõi nước phương khác cùng thế giới Ta Bà, như Thần biển, Thần sông cái, Thần sông con, Thần cây, Thần núi, Thần đất, Thần suối và ao đầm, Thần cây con và hạt giống, Thần ngày, Thần đêm, Thần hư không, Thần trên trời, Thần ăn uống, Thần cỏ cây và gỗ; các vị thần như thế đều đến hội họp.: đây là sự hộ trì cực lớn của các vị thần đối với giáo pháp của phật

Lại có chư đại quỷ vương ở các cõi nước phương khác cùng thế giới Ta Bà, như Ác Mục Quỷ Vương, Ðạm Huyết Quỷ Vương, Ðạm Tinh Khí Quỷ Vương, Ðạm Thai Noãn Quỷ Vương, Hành Bệnh Quỷ Vương, Nhiếp Ðộc Quỷ Vương, Từ Tâm Quỷ Vương, Phước Lợi Quỷ Vương, Ðại Ái Kính Quỷ Vương…, các quỷ vương như thế đều đến hội họp.: Quỷ vương thống lãnh hàng quỷ, nên có thể nói địa vị cũng rất cao. Có thần thông và có thể gây họa giáng phúc cho con người như các vị thần.

Bấy giờ Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: “Ông xem tất cả chư Phật, Bồ Tát và Trời, Rồng, Quỷ, Thần ở trong thế giới này cùng thế giới khác, quốc độ này cùng quốc độ khác, nay đều đến hội họp tại cung trời Ðao Lợi như thế, Ông có biết số bao nhiêu chăng?”: Phật không bao giờ làm cái gì vô ích cả, nên đây là cái “mở bài” đầy ngu ý. Văn thù sư lợi là vị bồ tát, kì thực từ kiếp lâu xa đã thành phật rồi, nhưng vì nguyện độ sanh mà làm bồ tát cho tới hiện tại. Đây là vị bồ tát đại diện cho trí tuệ của đại thừa. Nên hỏi bồ tát Văn thù, hàm ý của Phật là hỏi vị trí tuệ biện tài nhất, xem trí huệ đã đạt tới đỉnh cao có thể đo lường được điều vô biên vô hạn không thể đo lường hay không.

Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Nếu dùng thần lực của con để tính đếm trong ngàn kiếp, cũng không thể biết được!”: Văn thù đã là một vị phật quá khứ, về khả năng thì không hề kém bất cứ đức phật nào, tuy nhiên vẫn nói không thể biết, dù tính toán rất lâu, điều này chính là lời ngợi khen, ngôn ngữ nhà Phật gọi là tán thán, vị Văn thù biết Phật hỏi vậy là có lý do, và cũng hiểu phật sẽ tuyên thuyết công đức chánh pháp, đồng thời những người đến dự cũng hằng hà sa số nên nói vậy.

Ðức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi: “Ngay Ta dùng Phật Nhãn xem hãy còn không đếm xiết! Ðây đều là do Ðịa Tạng Bồ Tát từ thuở kiếp lâu xa đến nay, hoặc đã độ, đương độ, chưa độ, hoặc đã thành tựu, đương thành tựu, chưa thành tựu.”: đây là lời giới thiệu của Phật, không giới thiệu ngay địa tạng kiểu Nge đại danh đã lâu, nay mới được thấy, mà giới thiệu thành quả của địa tạng rồi mới nói về vị bồ tát đó, đây là cách chứng minh hùng hồn nhất năng lực của vị bồ tát này.

Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Từ thuở lâu xa về trước con đã tu căn lành, chứng được Trí Vô Ngại, nghe lời Phật nói đó thời tin nhận liền. : Như trên đã nói, đây là cổ phật tái sanh nên hiểu và lường được những gì Như Lai nói.

Còn hàng Tiểu Quả Thanh Văn, Thiên Long Bát Bộ, và những chúng sanh đời vị lai, dẫu nghe lời thành thật của Như Lai, nhưng chắc là sanh lòng nghi ngờ, dầu cho có lạy vâng đi nữa cũng chưa khỏi hủy báng. Cúi mong Ðức Thế Tôn nói rõ Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát ở nhân địa đã tu hạnh gì, lập nguyện gì mà thành tựu được sự không thể nghĩ bàn như thế?”: Câu hỏi này không phải Văn thù không biết, mà hỏi cho những người khác, để lấy cớ đó cho Phật thuyết về địa tạng

Ðức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi: “Ví dụ trong cõi Tam Thiên Ðại Thiên thế giới có bao nhiêu cỏ, cây, lùm, rừng, lúa, đay, tre, lau, núi, đá, bụi bặm, cứ mỗi vật một số, mỗi số là một sông Hằng; rồi cứ số cát trong mỗi sông Hằng, mỗi hạt cát làm một cõi giới; rồi trong mỗi cõi giới, cứ mỗi hạt bụi làm một kiếp; rồi bao nhiêu số bụi chứa trong mỗi kiếp đều đem làm kiếp cả; thì từ lúc Ðịa Tạng Bồ Tát chứng quả vị Thập Ðịa đến nay, ngàn lần lâu hơn số kiếp tỷ dụ ở trên, huống là từ những thuở Ðịa Tạng Bồ Tát còn ở bậc Thanh Văn và Bích Chi Phật!”: Từ Hằng Hà Sa Số: số cát sông hằng, là cách nói tỷ dụ rất hay gặp trong kinh phật. Cát sông Hằng rất mịn nhỏ, sông này lớn và nuôi cả nước ấn nên được người kính tin. Cát sông Hằng ko chỉ nhiều, mà còn là biểu tượng linh thiêng. Những từ như Cõi giới tức chỉ một vũ trụ, Kiếp ở đây không phải là kiếp người, mà là kiếp trái đất, tức là trái đất hình thành, có con người, con người diệt, rồi tan rã gọi là một kiếp….các từ thanh văn, bích chi phật làm ơn google để tìm hiểu cho chính xác. Tóm lại là đã từ rất lâu xa rồi, bồ tát đã đạt được các địa vị rất cao cấp.

“Này Văn Thù Sư Lợi! Oai thần thệ nguyện của Bồ Tát đó không thể nghĩ bàn đến được.

Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam, người thiện nữ nào nghe thấy danh tự của Bồ Tát đó rồi hoặc tán thán, hoặc chiêm lễ, hoặc xưng niệm danh hiệu, hoặc cúng dường, cho đến tô vẽ, chạm khắc, tạc đúc, sơn thếp hình tượng, thì người ấy sẽ được một trăm lần sanh lên cõi trời Ba MươI Ba, vĩnh viễn chẳng còn bị đọa vào ác đạo.: 100 lần sinh ra trên trời đao lợi, hưởng sự vui 100 lần, cỗi trời này có thọ mạng dài lâu mấy triệu năm, đồng thời lại là chốn yên vui nhất, lại không phải bị đọa vào ác đạo, tức không luân hồi và trở thành quỷ đói, tù tội địa ngục, hay loài vật, mà chỉ làm người, làm thần, làm trời thôi. Đây là sự may mắn hiếm có. Vì để thành người phải trì ngũ giới, làm trời phải có thêm thập thiện và thiền định. Rất khó khăn. Những từ Ngũ giới, thập thiện, thiền định Google.

Này Văn Thù Sư Li! Không th nói hết s kiếp lâu xa v trưc, Ða Tng B Tát Ma Ha Tát là con trai ca mt v đi Trưng Gi. Thu đó, trong đi có đc Pht hiu là Sư T Phn Tn C Túc Vn Hnh Như Lai.

Lúc by gi, con trai v Trưng Gi thy Ðc Pht tưng mo tt đp, ngàn phưc trang nghiêm, bèn bch hi Ðc Pht đó tu hnh nguyn gì mà đưc tưng mo như thế.

Này Văn Thù Sư Lợi! Không thể nói hết số kiếp lâu xa về trước, Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát là con trai của một vị đại Trưởng Giả. Thuở đó, trong đời có đức Phật hiệu là Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai.: Phật bắt đầu kể chuyện về địa tạng khi mới phát tâm bồ đề, tức là khi bắt đầu đi trên con đường tu tập, giải thoát không chỉ cho mình, mà trở thành bồ tát, rồi thành phật giúp ích cho tất cả mọi người.

Lúc bấy giờ, con trai vị Trưởng Giả thấy Ðức Phật tướng mạo tốt đẹp, ngàn phước trang nghiêm, bèn bạch hỏi Ðức Phật đó tu hạnh nguyện gì mà được tướng mạo như thế.: Hạnh nguyện tu hành là nhân, cái quả báo chính là tướng mạo tốt đẹp. Như người nào xinh đẹp thì cũng phải có nguyên nhân trong thời quá khứ giúp người làm đẹp ( ví dụ thế), người nào giàu có thì phải có nguyên nhân xa xưa giúp người khác tiền bạc… ở đây con trai vị trưởng giả đã làm được mấy việc: 1 là chiêm ngưỡng một vị Phật Sống, đây là việc cũng phải có nhân duyên nguyên nhân từ trước mới có, như chúng ta ngày nay không có được cái may mắn ấy, cũng vì không có nhân duyên tương ứng. 2 là chiêm ngưỡng thì sinh lòng kính trọng thân sắc phật: có người gặp phật thì không kính trọng, nên sự quý mến này cũng là có nhân duyên lâu xa về đời quá khứ, 3 là hỏi nguyên do gì, đây là sự ham cầu hiếu học

Khi y, Ðc Sư T Phn Tn C Túc Vn Hnh Như Lai bo con trai v Trưng Gi rng: ‘Mun chng đưc thân tưng này, cn phi lâu đi đ thoát tt c nhng chúng sanh b khn kh.

Khi ấy, Ðức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai bảo con trai vị Trưởng Giả rằng: ‘Muốn chứng được thân tướng này, cần phải lâu đời độ thoát tất cả những chúng sanh bị khốn khổ.’: nhân nào quả nấy

“Này Văn Thù Sư Li! By gi, con trai v Trưng Gi nhân đó lin phát nguyn rng: ‘T nay cho đến tn v lai kiếp chng th tính đếm v sau, tôi s vì nhng chúng sanh ti kh trong Lc Ðo mà rng lp nhiu phương tin, làm cho h đưc gii thoát tt c, ri t thân tôi mi chng thành Pht Ðo.

Bi đã trưc Ðc Pht đó mà lp đi nguyn như thế, nên đến nay đã trăm ngàn vn c na-do-tha không th nói hết s kiếp, mà vn còn làm v B Tát.

“Này Văn Thù Sư Lợi! Bấy giờ, con trai vị Trưởng Giả nhân đó liền phát nguyện rằng: ‘Từ nay cho đến tận vị lai kiếp chẳng thể tính đếm về sau, tôi sẽ vì những chúng sanh tội khổ trong Lục Ðạo mà rộng lập nhiều phương tiện, làm cho họ được giải thoát tất cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật Ðạo.’

Bởi đã ở trước Ðức Phật đó mà lập đại nguyện như thế, nên đến nay đã trăm ngàn vạn ức na-do-tha không thể nói hết số kiếp, mà vẫn còn làm vị Bồ Tát.: không ham làm phật, mà ham cứu giúp chúng sanh tội khổ hơn, đây chính là tôn chỉ của đại thừa. Làm phật để giúp chúng sanh, mà làm bồ tát cũng để giúp chúng sanh…. Nghĩ đến người trước khi nghĩ đến mình.

Li không th nghĩ bàn a-tăng-k kiếp v trưc, thu đó trong đi có đc Pht hiu là Giác Hoa Ðnh T Ti Vương Như Lai; th mng ca Ðc Pht y là bn trăm ngàn muôn c a-tăng-k kiếp.

Lại không thể nghĩ bàn a-tăng-kỳ kiếp về trước, thuở đó trong đời có đức Phật hiệu là Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai; thọ mạng của Ðức Phật ấy là bốn trăm ngàn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp.: Phật kể thêm một câu chuyện nữa về địa tạng ở một thời phật khác. Ức a tăng kỳ Google. Kiếp là kiếp trái đất. Các đức Phật sau khi thành PHật thì thọ mạng là thời gian tồn tại của thân xác phàm, còn các vị là Bất tử vì đã nhận thức được sự bất tử là gì. Đối với chuyện trái đất thành hoại như thế, mỗi kiếp khoảng 12 tỷ năm, thì đức phật kia thọ rất lâu, điều này chính là nói lên phước đức của phật đó, và người dân mà vị phật đó giáo hóa rất lớn. Đồng thời phật sẽ nhập niết bàn nếu không có người thỉnh phật trụ thế, nên có thể đoán được người dân trong nước đó rất siêng tu hành.

Trong thi Tưng Pháp, có mt ngưi con gái dòng Bà La Môn nhiu đi tích phưc sâu dày, đưc mi ngưi kính n, đi đng nm ngi đu đưc chư Thiên theo h v; song bà m li tin theo tà đo, thưng khinh chê ngôi Tam Bo.

Trong thời Tượng Pháp, có một người con gái dòng Bà La Môn : Các thời kỳ Chánh Pháp, tượng pháp, mạt pháp ý nghĩa thế nào google, nhấn mạnh là những gì đức phật tiên tri về thời tượng pháp, mạt pháp cho đạo phật trên trái đất này hoàn toàn khớp đúng với những gì đã và đang xảy ra, các đức Phật hiểu rõ quá khứ, hiện tại, tương lai nên không khi nào nói sai khác cả. Dòng Bà La Môn là đẳng cấp cao trong xã hội, google. Không phải phật giáo nhưng cũng chứng tỏ cô gái này được sinh ra trong môi trường tốt.

nhiều đời tích phước sâu dày, được mọi người kính nể, đi đứng nằm ngồi đều được chư Thiên theo hộ vệ; song bà mẹ lại tin theo tà đạo, thường khinh chê ngôi Tam Bảo.: tích phước nhiều đời thì mới được sinh vào nhà có của, lại được kính nể thì do tài đức, chư thiên hộ vệ chứng tỏ cô gái này có nhiều đức hạnh, phước đức toàn diện. Tam Bảo google.

Thu y, Thánh N lp nhiu phương tin đ khuyến d m, hu làm cho bà sanh chánh kiến, nhưng bà chưa tin hn; và chng bao lâu thì bà mnh chung, thn hn b đa vào đa ngc Vô Gián.

Lúc đó, Thánh N Bà La Môn biết rng bà m khi còn sng không tin nhân qu, t phi theo nghip mà sanh vào đưng ác, bèn bán nhà, đt, sm nhiu hương, hoa, cùng nhng đ l cúng, ri đem đến chùa tháp th tiên Pht mà làm đi l cúng dưng.

Thuở ấy, Thánh Nữ lập nhiều phương tiện để khuyến dụ mẹ, hầu làm cho bà sanh chánh kiến, nhưng bà chưa tin hẳn; tức nửa tin nửa ngờ, giống như giờ vừa theo Phật vừa xem bói, còn tệ hơn , vì bà mẹ khinh chê Tam Bảo.

và chẳng bao lâu thì bà mệnh chung, thần hồn bị đọa vào địa ngục Vô Gián.: theo phật giáo, người chết thì hồn sẽ đi vào 6 nẻo luân hồi. (goole về 6 cõi luân hồi)

Lúc đó, Thánh Nữ Bà La Môn biết rằng bà mẹ khi còn sống không tin nhân quả, ắt phải theo nghiệp mà sanh vào đường ác, Có nhân ắt có quả, đó là điều mà mọi kinh điển đều nhắc đến

bèn bán nhà, đất, sắm nhiều hương, hoa, cùng những đồ lễ cúng, rồi đem đến chùa tháp thờ tiên Phật mà làm đại lễ cúng dường.: Thời tượng pháp tức là thời đức phật đã mất, nên không thể nào đi cúng dường trực tiếp, gặp trực tiếp, mà chỉ có thể tới chùa tháp làm đại lễ, vậy nên gặp được phật rất khó.

Trong mt ngôi chùa kia, trông thy hình tưng ca Ðc Giác Hoa Ðnh T Ti Vương Như Lai đp v oai dung đ cách tôn nghiêm, Thánh N Bà La Môn chiêm l tôn dung, lòng càng bi phn kính ngưng, thm nghĩ rng: Ðc Pht là đng Ði Giác đy đ mi trí hu. Nếu Ðc Pht còn ti thế, thì sau khi m tôi mt, thng như tôi đến bch hi Pht, tt biết đưc nơi m tôi thác sanh!’

Trong một ngôi chùa kia, trông thấy hình tượng của Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai đắp vẽ oai dung đủ cách tôn nghiêm, Thánh Nữ Bà La Môn chiêm lễ tôn dung, lòng càng bội phần kính ngưỡng, : gọi Thánh nữ vì đạo cao đức trọng, mới nhìn hình tượng Phật đã kính ngưỡng chứng tỏ đã từng có nhân duyên tốt lành với phật pháp.

thầm nghĩ rằng: ‘Ðức Phật là đấng Ðại Giác đầy đủ mọi trí huệ. Nếu Ðức Phật còn tại thế, thì sau khi mẹ tôi mất, thảng như tôi đến bạch hỏi Phật, tất biết được nơi mẹ tôi thác sanh!’: đây là lời kính ngưỡng, tán thán PHật. Đại giác là hiểu hết mọi sự. Trong đó có sự sinh tử của con người.

Lúc y, Thánh N Bà La Môn cúi đu khóc rt lâu, ri li chiêm luyến tôn tưng ca Như Lai, bng nghe trên không trung có tiếng bo rng: Này Thánh N đương khóc kia, thôi đng có bi ai quá lm! Nay Ta s bo cho ngươi biết ch thác sanh ca m ngươi!

Lúc ấy, Thánh Nữ Bà La Môn cúi đầu khóc rất lâu,: đây là khóc vì tiếc không được gặp đức phật trực tiếp mà chỉ được nhìn tượng. Có thẻ thánh nữ đang nghĩ rằng đời trước không tu được thiện hạnh lành nên nay cần gặp phật trực tiếp hỏi chỗ của mẹ thì không được, mà chỉ tồn tại bức tượng của ngài thôi.

Thánh N chp tay hưng lên hư không mà bch rng: Chng hay đc thn nào đã gii bt lòng su lo ca tôi như thế? T khi m tôi mt đến nay, tôi ngày đêm thương nh, không biết đâu đ hi cho rõ m tôi thác sanh vào chn nào.’

Phần này nói lên rằng chính thánh nữ không tin Phật nói, vì phật nhập niết bàn rồi, nên nghĩ đó là một vị thần nào đó. Cảnh tượng của thánh nữ cũng giống chúng ta ngày nay, không có đức phật trực tiếp dẫn độ dìu dắt nên hay mắc phải sai lầm, tới khi đối mặt với việc sinh tử thì không biết làm thế nào cả.

By gi, trên hư không li có tiếng bo Thánh N rng: Ta là Ðc Pht quá kh Giác Hoa Ðnh T Ti Vương Như Lai mà ngươi đương chiêm l đó. Thy ngươi thương nh m tri hơn thưng tình ca chúng sanh, nên Ta đến ch bo.

Bấy giờ, trên hư không lại có tiếng bảo Thánh Nữ rằng: ‘Ta là Ðức Phật quá khứ Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai mà ngươi đương chiêm lễ đó. Thấy ngươi thương nhớ mẹ trội hơn thường tình của chúng sanh, nên Ta đến chỉ bảo.’: Phật với thân xác phàm đã mất từ lâu, thời tượng pháp xa xôi, đoạn này khẳng định các đức phật luôn trường tồn và đã thoát khỏi sự chết, đồng thời lại có thể cảm ứng mười phương ba đời, luôn luôn xót thương lắng nghe tiếng thống khổ của nhân gian, nhw cha mẹ với con cái, hết lòng như vậy. Trội hơn thường tình chúng sanh: tức là thương xót mẹ đạo hiếu là đây.

Thánh N Bà La Môn nghe nói xong lin nhy chm lên và b té rt xung, các khp tay chân đu b tn thương; nhng ngưi cnh bên lin đ dy. Mt lát sau Thánh N mi tnh li, ri bch cùng trên hư không rng: Cúi xin Ðc Pht t bi thương xót, bo ngay cho con rõ ch thác sanh ca m con, nay thân tâm ca con sp chết mt!

Thánh Nữ Bà La Môn nghe nói xong liền nhảy chồm lên và bị té rớt xuống, : đây là phản ứng sốc khi có phương tiện có thể giúp cho ước nguyện. Sự vui mừng đột ngột khiến con người không giữ được bình tĩnh.

các khớp tay chân đều bị tổn thương; những người ở cạnh bên liền đỡ dậy. : người ở cạnh không sốc mà chỉ có thánh nữ vui mừng đến chồm lên rồi ngã thôi,vì đó là sự thông linh cảm ứng không thể nghĩ bàn giữa đức phật và thánh nữ thỉnh nguyện với tâm chí thành, sâu sắc.

Một lát sau Thánh Nữ mới tỉnh lại, rồi bạch cùng trên hư không rằng: ‘Cúi xin Ðức Phật từ bi thương xót, bảo ngay cho con rõ chỗ thác sanh của mẹ con, nay thân tâm của con sắp chết mất!’: một lần nữa, tiếng của người hiếu tử cất lên

Lúc y, Ðc Giác Hoa Ðnh T Ti Vương Như Lai bo Thánh N rng: Cúng dưng xong, ngươi hãy mau tr v nhà, ri ngi ngay thng nghĩ tưng danh hiu ca Ta, thi s biết đưc ch thác sanh ca m ngươi.

Đoạn này là lời hướng dẫn.

By gi, l Pht xong Thánh N Bà La Môn lin tr v nhà. Vì thương nh m, nên Thánh N ngi ngay thng nim danh hiu ca Giác Hoa Ðnh T Ti Vương Như Lai. Tri sut mt ngày mt đêm, Thánh N bng thy thân mình đến mt b bin kia, nưc trong bin đó sôi sùng sc, có rt nhiu thú d thân th toàn bng st bay nhy trên mt bin, chy ro bên này, xua đui bên kia; và thy nhng trai cùng gái, s nhiu đến trăm ngàn muôn, thot chìm thot ni trong bin, b các thú d giành nhau ăn tht; li thy các D Xoa hình thù khác nhau—hoặc nhiều tay, nhiu mt, nhiu chân, nhiu đu…, răng nanh chìa ra ngoài ming, bén nhn dưng gươmđang lùa nhng ngưi ti đến gn thú d. Ri chúng li t chp bt, túm qup đu chân li vi nhau, hình trng muôn th, chng dám nhìn lâu.

Khi y, Thánh N Bà La Môn nh nương sc nim Pht nên t nhiên không kinh s. Có mt Qu Vương tên là Vô Ðc, đến cúi đu nghênh tiếp, hi Thánh N rng: Lành thay, B Tát! Do duyên s gì mà Ngài đến chn này?’

Bấy giờ, lễ Phật xong Thánh Nữ Bà La Môn liền trở về nhà. Vì thương nhớ mẹ, nên Thánh Nữ ngồi ngay thẳng niệm danh hiệu của Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai. : nghe được lời chỉ dạy chí cốt thì phải thực hiện, đây là ý đó.

Trải suốt một ngày một đêm,:thời gian này cũng nhanh. Người bình thường một ngày một đêm không thể làm được như vậy, điều này chứng tỏ thánh nữ đã có công phu thiền định, lại có hiếu thiết tha, một lòng hướng về mẹ mà trì tụng danh hiệu phật thì mới được như thế.

Thánh Nữ bỗng thấy thân mình đến một bờ biển kia,: đây không phải là mơ, mà là nhờ sức của Phật, người con có hiếu đã có thể tách thần thức ra khỏi thân xác mà đi tới chỗ của mẹ

nước trong biển đó sôi sùng sục, có rất nhiều thú dữ thân thể toàn bằng sắt bay nhảy trên mặt biển, chạy rảo bên này, xua đuổi bên kia; và thấy những trai cùng gái, số nhiều đến trăm ngàn muôn, thoạt chìm thoạt nổi trong biển, bị các thú dữ giành nhau ăn thịt; lại thấy các Dạ Xoa hình thù khác nhau—hoặc nhiều tay, nhiều mắt, nhiều chân, nhiều đầu…, răng nanh chìa ra ngoài miệng, bén nhọn dường gươm—đang lùa những người tội đến gần thú dữ. Rồi chúng lại tự chụp bắt, túm quắp đầu chân lại với nhau, hình trạng muôn thứ, chẳng dám nhìn lâu.: đoạn tả cảnh biển ngục này có từ dạ xoa. Đây là cảnh một loại địa ngục.

Khi ấy, Thánh Nữ Bà La Môn nhờ nương sức niệm Phật nên tự nhiên không kinh sợ. : nhấn mạnh đến năng lực của niệm phật giúp không sợ hãi, đồng thời giúp cho con người tránh khỏi các thứ khổ nạn kể cả trong địa ngục.

Có một Quỷ Vương tên là Vô Ðộc, đến cúi đầu nghênh tiếp, hỏi Thánh Nữ rằng: ‘Lành thay, Bồ Tát! Do duyên sự gì mà Ngài đến chốn này?’: bồ tát là giác hữu tình, là người đã có phát hạnh nguyện rộng lớn giúp đời , giúp tất cả mọi người, mọi loài cùng tu tập tiến lên giác ngộ giải thoát. Tuy thánh nữ là dòng bà la môn, nhưng vì tin theo phật mà niệm phật , lại đến cứu mẹ nên gọi bồ tát là cực đúng.

By gi, Thánh N Bà La Môn hi Qu Vương rng: Ðây là chn nào?’

Vô Ðc đáp rng: Ðây là tng bin th nht phía Tây núi Ði Thiết Vi.

Thánh N hi rng: Tôi nghe trong núi Thiết Vi có đa ngc, vic y có tht chăng?

Vô Ðc đáp rng: Tht có đa ngc!

Thánh N hi rng: Nay tôi làm sao đưc đến chn đa ngc?

Vô Ðc đáp rng: Nếu không phi sc oai thn, cn phi do nghip lc. Ngoài hai điu này ra, t không bao gi có th đến đưc.

Bấy giờ, Thánh Nữ Bà La Môn hỏi Quỷ Vương rằng: ‘Ðây là chốn nào?’

Vô Ðộc đáp rằng: ‘Ðây là tầng biển thứ nhất ở phía Tây núi Ðại Thiết Vi.’ : đại thiết vi, tức núi sắt, đây là khu vực tập trung các loại địa ngục, mà chỗ của thánh nữ là một chỗ cực nhỏ trong khu vực đó

Thánh Nữ hỏi rằng: ‘Tôi nghe trong núi Thiết Vi có địa ngục, việc ấy có thật chăng?’

Vô Ðộc đáp rằng: ‘Thật có địa ngục!’

Thánh Nữ hỏi rằng: ‘Nay tôi làm sao được đến chốn địa ngục?’

Vô Ðộc đáp rằng: ‘Nếu không phải sức oai thần, cần phải do nghiệp lực. Ngoài hai điều này ra, ắt không bao giờ có thể đến được.’: khẳng định đi vào địa ngục chỉ có kẻ tạo tội nghiệt cực lớn, hoặc là người đến giúp các tội nhân. Những người bình thường, các loài bình thường không có tội nghiệt lớn thì cũng không thể vào đó được.

Thánh N li hi: Do duyên c gì mà nưc trong bin này sôi sùng sc và có nhng ngưi ti cùng các thú d như thế?

Vô Ðc đáp rng: Ðây là nhng chúng sanh to ác cõi Diêm Phù Ð mi chết, quá bn mươi chín ngày không ngưi kế t đ làm công đc hu cu vt kh nn cho; lúc sng, h li không làm đưc nhân lành nào c; vì thế nên c theo bn nghip mà chiêu cm ly đa ngc, t nhiên h phi li qua bin này trưc. Cách bin này mưi vn do-tun v phía Ðông li có mt cái bin, nhng s thng kh đó còn gp bi chn này. Phía Ðông ca bin đó li có mt cái bin na, s thng kh đó càng tri hơn. Do ác nhân ca Tam Nghip cm vi ra và gi chung là bin nghip, chính là chn này vy.

Vô Ðộc đáp rằng: ‘Ðây là những chúng sanh tạo ác ở cõi Diêm Phù Ðề mới chết, quá bốn mươi chín ngày không người kế tự để làm công đức hầu cứu vớt khổ nạn cho; đây chỉ là một trong các lý do làm các “cụ” thích có con trai, kì thực trai gái như nhau, ai cũng làm người kế tự và đều có thể qua sự tu hành của chính mình mà cứu vớt tổ tiên, không chỉ cha mẹ một đời mà cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp. Trong 49 ngày, 7 tuần lễ liên tiếp chính là thời gian địa ngục bàn luận tội trạng, vì không có con cái hiểu lễ nghĩa làm công đức cho nên các linh hồn tạo ác phải ở trong phần biển này.

lúc sống, họ lại không làm được nhân lành nào cả; vì thế nên cứ theo bổn nghiệp mà chiêu cảm lấy địa ngục, : 49 ngày chính là thời gian giúp người tội có thể cải biến phước đức của mình.

tự nhiên họ phải lội qua biển này trước. : đây là cảnh giới đầu tiên của những người đọa địa ngục: phải vượt biển khổ. Dù chưa biết rõ tội báo sẽ bị xung vào khu ngục nào cũng cứ phải qua cái biển đó trước vì ít phước.

Cách biển này mười vạn do-tuần về phía Ðông lại có một cái biển, những sự thống khổ ở đó còn gấp bội chốn này. Phía Ðông của biển đó lại có một cái biển nữa, sự thống khổ ở đó càng trội hơn. Nhiều biển, mỗi biển lại có một cách hành hình khác nhau, như ở trên trái đất có Thái Bình dương chuyên gây bão lớn, lại có biển toàn băng giá như Bắc băng dương… các biển đều khác nhau, người trái đất không chọn được sinh ra ở vùng đất nào, cũng giống người tội không chọn được biển mà chỉ đo nghiệp họ gây ra mà hóa sinh thôi.

Do ác nhân của Tam Nghiệp cảm vời ra và gọi chung là biển nghiệp, chính là chốn này vậy.’ : địa ngục không có, nếu như mình không làm chuyện tồi tệ thì sẽ không đến địa ngục, như vậy với người tốt lành thì không có địa ngục. Song đối với người làm ác thì họ phải xuống địa ngục, như vậy địa ngục với họ là có tồn tại. Đó là ác nhân tam nghiệp cảm với. Tam nghiệp là những gì chúng ta nghĩ, nói, làm… ở đây là nghiệp xấu nên mới tạo ra biển nghiệp. Những người có nghiệp xấu giống nhau, như cùng nói lời hai lưỡi chia rẽ người khác, thì sẽ cùng đến biển nghiệp tượng khí giống nhau chịu quả báo giống nhau…

Thánh N li hi Qu Vương Vô Ðc rng: Ða ngc đâu?’

Vô Ðc đáp rng: ‘Ở trong ba cái bin đó đu là đi đa ngc, nhiu đến s trăm ngàn, mi ngc đu khác nhau. V đa ngc ln thì có mươi tám ch; bc kế đó có năm trăm ch, đ không lưng s kh s; bc kế na có đến ngàn trăm, cũng đy không lưng s thng kh.

Thánh Nữ lại hỏi Quỷ Vương Vô Ðộc rằng: ‘Ðịa ngục ở đâu?’

Vô Ðộc đáp rằng: ‘Ở trong ba cái biển đó đều là đại địa ngục, nhiều đến số trăm ngàn, mỗi ngục đều khác nhau. Về địa ngục lớn thì có mươi tám chỗ; bực kế đó có năm trăm chỗ, đủ không lường sự khổ sở; bực kế nữa có đến ngàn trăm, cũng đầy không lường sự thống khổ.’: biển bao bọc địa ngục, khá giống đồ hình trên trái đất biển bao bọc đất liền. Mỗi ngục khác nhau tương ứng với nghiệp ác của chúng sinh. Số lượng ngục chính là nói lên sự sai khác nghiệp ác, kết quả của nghiệp ác, tất cả do hành động thân tâm của chúng ta mà tạo ra sự sai khác đó cả. Các mẹ đọc thêm về kinh nghiệp báo sai biệt để rõ hơn nhé.

Thánh N li hi Ði Qu Vương rng: Thân mu tôi mi mt gn đây, song không rõ thn hn ca ngưi phi sa vào chn nào?’

Qu Vương hi Thánh N rng: Thân mu ca B Tát khi còn sng, quen làm nhng nghip gì?’

Thánh N đáp rng: Thân mu tôi tà kiến, khinh chê ngôi Tam Bo, hoc có lúc tm tin, nhưng ri chng kính; du khut không bao lâu, mà chưa rõ thác sanh v đâu.’

Quỷ Vương hỏi Thánh Nữ rằng: ‘Thân mẫu của Bồ Tát khi còn sống, quen làm những nghiệp gì?’ đây chính là câu hỏi phân loại để quỷ vương tìm địa ngục tương ứng cho nghiệp báo hòng tìm ra mẹ người thánh nữ

Vô Ðc hi rng: Thân mu ca B Tát tên h là gì?’

Thánh N đáp rng: Thân ph và thân mu ca tôi đu dòng dõi Bà La Môn. Thân ph tôi hiu là Thi La Thin Kiến, thân mu tôi tên là Duyt Ðế Li.

Vô Ðc chp tay thưa B Tát rng: Xin Thánh Gi hãy tr v, và ch thương nh bun ru quá lm na. Ti n Duyt Ðế Li đưc sanh lên cõi tri đến nay đã ba ngày ri. Nghe nói nh con trai ca bà có lòng hiếu thun, vì m mà thiết cúng đ tu phưc, và b thí chùa tháp th Ðc Giác Hoa Ðnh T Ti Vương Như Lai. Chng phi ch thân mu ca B Tát đưc thoát khi đa ngc, mà ngày đó, nhng ti nhân Vô Gián cũng đu đưc an lc, đng đưc thác sanh c.

Nói xong, Qu Vương chp tay chào Thánh N mà cáo lui.” 

Vô Ðộc chắp tay thưa Bồ Tát rằng: ‘Xin Thánh Giả hãy trở về, và chớ thương nhớ buồn rầu quá lắm nữa. Tội nữ Duyệt Ðế Lợi được sanh lên cõi trời đến nay đã ba ngày rồi. Nghe nói nhờ con trai của bà có lòng hiếu thuận, vì mẹ mà thiết cúng để tu phước, và bố thí chùa tháp thờ Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai. Chẳng phải chỉ thân mẫu của Bồ Tát được thoát khỏi địa ngục, mà ngày đó, những tội nhân Vô Gián cũng đều được an lạc, đồng được thác sanh cả.’ : Quỷ vương là vua loài quỷ, tên Vô độc, độc ở đây là độc nhất, tức không phải chỉ có vị quỷ này nói thế, độc ở đây là độc trái với lành, hay vô độc tức là độc vô đối??? Quan trọng là vị quỷ vương này đã thông báo một tin vui với thánh nữ: bà mẹ được sanh thiên nhờ con gái làm việc thiện phước. Không chỉ có vậy mà các linh hồn tội nghiệp khác ngày đó cũng được hưởng phước báu được giải thoát. Có một vấn đề là “ba ngày” trong khi thánh nữ đi chưa phải lâu. Vì sao vậy, trong đạo phật, người ta cho rằng thời gian mỗi cõi giới là khác nhau, ở trên trái đất là 1 ngày, thì địa ngục đã trải qua cả năm, còn ở trên trời một ngày, thì trái đất đã vòng quanh mặt trời chục năm rồi, chưa kể các tầng trời khác nhau, thì thời gian cũng khác nhau, các cõi nước khác nhau, thời gian cũng khác nhau.

Thánh N Bà La Môn dưng chiêm bao cht tnh, rõ biết các vic ri, bèn đi trưc tháp tưng ca Ðc Giác Hoa Ðnh T Ti Vương Như Lai mà lp hong th nguyn rng: ‘Tôi nguyn t nay cho đến tn v lai kiếp, s vì nhng chúng sanh mc phi ti kh mà rng lp phương tin, khiến cho h đu đưc gii thoát.’

Thánh Nữ Bà La Môn dường chiêm bao chợt tỉnh, rõ biết các việc rồi, bèn đối trước tháp tượng của Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai mà lập hoằng thệ nguyện rằng: ‘Tôi nguyện từ nay cho đến tận vị lai kiếp, sẽ vì những chúng sanh mắc phải tội khổ mà rộng lập phương tiện, khiến cho họ đều được giải thoát.’: thệ nguyện không phải là điều trả ơn với phật, mà là khi thánh nữ vào chứng kiến sự khổ đau nơi địa ngục và thấy được họ có thể được giải thoát nhờ nhiều phương tiện, sự từ bi của bồ tát nên mới phát lời nguyện như thế. Nguyện thì gọi là bồ tát, đến khi đủ công đức , phước lực, trí huệ… thì thành phật, các lời nguyện sẽ được thực hiện khi bồ tát đó thành phật.

Ðc Pht bo ngài Văn Thù Sư Li rng: “Qu Vương Vô Ðc ngày trưc, nay chính là Tài Th B Tát; còn Thánh N Bà La Môn đó, nay là B tát Ða Tng vy.”

Ðức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: “Quỷ Vương Vô Ðộc ngày trước, nay chính là Tài Thủ Bồ Tát; còn Thánh Nữ Bà La Môn đó, nay là Bồ tát Ðịa Tạng vậy.”: một lời nguyện lớn trong một bối cảnh được nhắc lại, đây là để giải thích lời nguyện, cũng là để ngợi khen bồ tát địa tạng.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: