Thuyền lớn, buồm căng, gió lộng

Câu văn- lưu ý dành cho biên tập

Posted in Cóp nhặt linh tinh by Peony Hằng Phương on 10 Tháng Tư 2013

 

CÂU VĂN- Trích chương 3- Editorial Eye

Sử dụng lời trích dẫn

Dấu ngoặc kép là dấu hiệu báo cho độc giả biết: Bây giờ có chuyện đặc biệt. Người viết sẽ tránh ra và để cho tôi nghe trực tiếp lời của những người có liên quan” Một bài viết đặt những lời nhạt nhẽo vào giữa hai dấu ngoặc kép đã biến dấu hiệu này thành điều dối gạt. Những bài viết trích dẫn quá nhiều từ sáo rỗng, biệt ngữ, hoặc những câu dài dòng, rối rắm cũng vậy. Các trích dẫn hay sẽ bổ sung màu sắc và độ tin cậy. Chúng đưa độc giả đến gần với sự kiện hơn, phô bày cá tính nhân vật cho thấy tiết tấu và ngữ điệu của văn nói. Khi gặp những câu trích dẫn, người biên tập không chỉ chú ý đến các yếu tố ngữ pháp mà còn chú ý cả phong cách. Có bốn phạm trù liên quan đến cách trích dẫn là : Nội dung, cách giới thiệu, giải thích bối cảnh, số lượng câu trích dẫn…

Nội dung trích dẫn:

Trích dẫn cảm xúc chứ không trích dẫn dữ kiện. Tuy công thức này không phải lúc nào cũng đúng nhưng đó là cách đơn giản nhất để giải thích về những gì hàm chứa trong nội dung trích dẫn. Để hỗ trợ cho đoạn dẫn nhập, có khi một câu chuyện thời sự buộc phải trích dẫn một tuyên bố khác nhạt nhẽo của một nhân vật có thẩm quyền hay một tài liệu nào đó – nhạt nhẽo nhưng cần thiết. Không kể ngoại lệ đó, những lời trích dẫn phải dành cho những phát biểu mà phóng viên không thể viết sinh động bằng những gì đã nghe thấy. Việc gì phải mất công trích dẫn lời một bà hiệu trưởng nói: trường này có 10 nghìn sinh viên? Trích dẫn này không phải tuyên bố độc đáo, mà cách nói cũng chẳng độc đáo gì. Thay vì thế, có thể trích dẫn cách hiệu trưởng bộc lộ phản ứng: Tôi luôn lo nghĩ nát óc khi những quyết định của tôi sẽ ảnh hưởng tới bao nhiêu người.

Giới thiệu câu trích dẫn

Một câu trích dẫn phải phát triển từ câu đứng trước nó. Phải cảnh giác với hai kiểu trích dẫn này: lời trích dẫn lặp lại câu trước và lời trích dẫn dường như từ trên trời rơi xuống.

Hai câu sau phải chỉnh sửa:

Bà hiệu trưởng trường đại học căng thẳng vì quyết định của bà sẽ ảnh hưởng đến quá nhiều người. Bà nói: “Tôi luôn lo nghĩ nát óc khi những quyết định của tôi sẽ ảnh hưởng đến bao nhiêu người”

Bà đã làm hiệu trưởng trường đại học này từ khi rời Oklahoma tới đây 30 năm trước. Bà nói: “Tôi luôn lo nghĩ nát óc khi những quyết định của tôi sẽ ảnh hưởng đến bao nhiêu người”

Câu đã biên tập:

Bà hiệu trưởng trường đại học này cho biết số lượng sinh viên tăng nhanh đã khiến bà phải thận trọng. Bà nói: Tôi luôn lo nghĩ nát óc…

Giải thích bối cảnh trích dẫn:

Nhiều người thường ca thán rằng các nhà báo đã trích lời họ ngoài bối cảnh. HỌ nói không sai. Trừ phi nội dung tin bài ghi lại từng chữ những gì ai đó đã nói với phóng viên, những trích dẫn luôn nằm ngoài bối cảnh. Những phóng viên giỏi luôn ý thức được tầm quan trọng của việc giải thích những gì cần thiết để bảo đảm không ai hiểu sai lời trích dẫn. Những biên tập viên giỏi luôn kiểm tra nội dung để đảm bảo phóng viên có giải thích bối cảnh và lời giải thích này phải nằm trước, chứ không nằm sau lời trích dẫn.

Vụng về: “Tôi có thể nằm trên giường nghe tiếng vui đùa, ngồi ăn trưa chứng kiên sbieeru tình, nhìn ra cửa sổ và quan sát những con người mà chính họ là lý do để tôi có mặt tại nơi này”, bà hiệu trưởng nói về cuộc sống của bà trong ngôi nhà gạch đường bệ nằm ngay trung tâm khu học xá sinh viên.

Mạch lạc: Bà tận hưởng mọi điều trong cuộc đời hiệu trưởng giữa những bức tường gạch của ngôi nhà nằm trong trung tâm khu đại học. Bà nói: Tôi có thể ….

Số lượng câu trích dẫn

Hầu như trong mọi tờ báo, bạn đều có thể tìm thấy những câu chuyện thực tế không phải do các phóng viên viết ra. Đó chỉ là hàng loạt lời trích dẫn được xâu kết với nhau bằng vài từ của phóng viên chen vào giữa. Có khi phóng viên dùng kỹ thuật này để nhường lời cho nguồn tin nói. Có khi phóng viên viết bài theo kieru này chỉ vì họ không tự tin vào ngôn từ của mình, hoặc không chịu phân tích mọi lời trích dẫn đã thu thập và chọn ra những câu hay nhất. Dù vì lý do nào đi nữa, những bài viết như thế cần được biên tập lại. Độc giả không giở báo ra để đọc các phát biểu trên đời ngày hôm qua. Độc giả trông đợi phóng viên phải làm một số việc cho họ, xếp hạng tầm quan trọng của những sự kiện, giải thích ý nghĩa của chúng, truyền đạt những chi tiết đáng chú ý. Phóng viên phải chứng tỏ là mình biết diễn đạt súc tích và lôi cuốn hơn các nguồn tin.

Biên tập viên phải đặc biệt chú ý đến những câu trích dẫn chòng chất gần cuối bài viết. PHóng viên có khi mỏi mệt, và trong tâm lý gấp rút viết bài cho kịp thời hạn, chỉ làm mỗi việc là gom hét những gì đã ghi chép để đưa vào bài, cho các luồng tin thay nhau nói ra rả. Rất dễ giải quyết những trích dẫn chồng chất này. Chỉ cần hìn dung ra- lý tưởng nhất là nên hội ý với phóng viên – lời từng người phát biểu sẽ phục vụ cho mục đích nào trong nội dung câu chuyện. Mục đích ấy sẽ trở thành câu giới thiệu cho lời trích dẫn. Sau đó chỉ chọn ra một hoặc hai câu hay nhất.

“Tôi phải nghi ngờ những lời khẳng định của công ty dầu khí cho rằng vùng biển này đầy bất trắc và chuyện tràn dầu là không thể tránh khỏi”, viên sỹ quan tuần duyên nói. “Tôi đã nói chuyện với những người ở trên chiếc tàu chở dầu ngày hôm ấy. Cụ thể hơn, bản thân tôi từng làm hoa tiêu ở vùng biển này. Không thể nào ví vùng biển này với Bermuda. Chúng tôi nói đến eo biển rộng đến mức mấy đứa con nít có thể lái tàu dầu đi qua an toàn.”

à Sửa lại như sau

Viên sĩ quan tuần duyên, người từng làm hoa tiêu ở vùng biển này, cho biết eo biển không bất trắc như công ty dầu khí quả quyết. Ông nói: “Không thể nào ví vùng biển này với Tam giác Bermuda. Chúng tôi nói đến một eo biển rộng đến mức mấy đứa con nít có thể lái tàu dầu đi qua an toàn. “

Đơn giản hóa những cấu trúc câu phủ định

Nói chung, phóng viên thời sự luôn cố tránh dùng câu phủ định, đặc biệt trong câu dẫn nhập và tít. Công chúng muốn biết điều gì đã xảy ra, chứ khong phải điều KHÔNG xảy ra. Phóng viên nào gắn bó với từ “nhưng” thường ưa chuộng phủ định kép, và có khi trong một câu có đủ cả hai sự phức tạp đó. Nếu không có ai biên tập lại, độc giả và thính giả chắc chắn sẽ vò đầu bứt tai với những câu nói kiểu Nhưng không một ai phủ nhận rằng không hề có vấn đề.

Hầu hết phóng viên đều có thể dễ dàng tránh dạng phủ định kép này. Nhưng bệnh phủ định quá mức còn xuất hiện trong nhiều hình thức khác ngoài từ KHÔNG, đặc biệt trong các tin bài về các tiến trình pháp lý hay tố tụng. Chính quyền và tòa án luôn thực hiện những thay đổi lớn theo từng bước nhỏ. Phóng viên dễ bị mắc kẹt trong tiến trình đó thay vì tường thuật kết quả một cách đơn giản.

Tòa án tối cao tiểu bagn bác bỏ phán quyết đã tuyên bố rằng sắc lệnh của thành phố nghiêm cấm nhảy múa khỏa thân là vi hiến.

“Bác bỏ”, “nghiêm cấm”, “vi hiến” toàn là những phủ định. Ba từ này hợp lại khiến đầu óc quay cuồng. Thế tòa án đã làm gì chứ. Hãy xem từng bước một.

Chính quyền thành phố ra sắc lệnh quy định : không được nhảy múa khỏa thân

Tòa án cấp thấp bảo rằng sắc lệnh này vi phạm hiến pháp à tức là tòa án này cho phép nhảy múa khỏa thân

Tòa tối cao bác bỏ phán quyết tòa cấp thấp

à Tòa tối cao cho rằng cấm nhảy múa khỏa thân là đúng luật

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: