Thuyền lớn, buồm căng, gió lộng

Gập ghềnh con đường rau sạch

Posted in Âm nhạc, Bài học, CÔNG VIỆC, HẰNG PHƯƠNG, Quà tặng cuộc sống, Văn hoá by Peony Hằng Phương on 9 Tháng Tư 2012

Gập ghềnh con đường rau sạch

Khả năng sản xuất và cung ứng lớn, nhu cầu của người tiêu dùng cực cao, nhưng hiện tại người nông dân và các công ty rau sạch khóc dở mếu dở vì không thấy lãi. Chuỗi giá trị ngành hàng rau Hà Nội có nhiều lỗ hổng quản lý và kết nối.

Hạ tầng xuống cấp

Cơ sở hạ tầng chủ yếu được đầu tư từ những năm 2000 hầu hết đã bị hư hỏng nặng. Những nơi có chứng nhận VietGAP hoặc theo hướng VietGAP thì khá hơn nhưng bản thân chứng nhận này đang đứng trước nguy cơ phá sản và thiếu đầu tư. Riêng với RHC, do đặc thù về chất lượng nên ngoài việc người sản xuất được đào tạo, đất được phân tích, hệ thống tưới tiêu, khu sơ chế… giống như RAT, thì có thêm yêu cầu về nước sử dụng tưới phun phải qua hệ thống lọc, ruộng phải có bờ cách ly với các khu vực sản xuất khác và hệ thống xửa lý phân hữu cơ, khu sơ chế, hệ thống điện… Nhìn chung, đấy mới chỉ là những điều kiện cơ bản để sản xuất, hầu hết chưa có hệ thống sản xuất kiên cố. Các vật liệu đơn giản, rẻ tiền nhất như nhà nilon, vòng nan tre… được huy động tối đa. Hệ thống nhà lưới được chi cục bảo vệ thực vật Hà Nội đầu tư từ năm 2005 tới nay đã hư hỏng do không có kinh phí cải tạo. Diện tích được người sản xuất góp vốn tự nâng cấp cũng có nhưng không lớn. Nhà sơ chế RAT phần lớn bỏ không do hoạt động thương mại không phát triển, người sản xuất tự làm tự bán sản phẩm cho lái buôn, chợ đầu mối. Hệ thống bê tông hóa nội đồng chưa được đầu tư, khâu tưới tiêu gặp nhiều khó khăn.

Quản lý lỏng lẻo

Ngoài các vùng rau được chứng nhận PGS ở Sóc Sơn, diện tích rau còn lại ở Hà Nội đều do chi cục bảo vệ thực vật cấp chứng nhận và quản lý chất lượng. Với khoảng 700 tấn rau mỗi ngày, 8 huyện ngoại thành Hà Nội với hàng chục HTX, công ty rau, chưa tính các vùng sản xuất ở Hòa Bình, Đà Lạt… chi cục và một vài cơ quan hành chính nhà nước cần bao nhiêu cán bộ và nguồn lực mới có thể giám sát chất lượng các vùng rau. Dù có đảm bảo được rau ở vùng sản xuất, khâu lưu thông phân phối vẫn còn nhiều lỗ hổng.

Hiện có 3 quy trình sản xuất chủ yếu được áp dụng và có chứng nhận tương đương là rau sạch là rau an toàn (RAT) (88% diện tích), rau tiêu chuẩn VietGAP (11% diện tích), rau hữu cơ (RHC) (1% diện tích). Trong đó chứng nhận RAT chiếm tỉ lệ 92% và được coi là chứng nhận cơ bản cần có đối với sản phẩm rau ở các vùng sản xuất quanh Hà Nội. Sở nông nghiệp Hà Nội đang nỗ lực để 100% các vùng rau ngoại thành đạt chứng nhận RAT. Với RAT, chỉ cần nộp tiền, qua vài thủ tục là có giấy chứng nhận. Việc giám sát quy trình canh tác ở các vùng sản xuất về thực tế không được thực hiện. 54% cơ sở sản xuất có giám sát nội bộ nhưng dừng lại ở tuyên truyền, chỉ đạo, nhắc nhở. Không có chuyện xử phạt vì không thực hiện khâu bao tiêu sản phẩm. Các cửa hàng, siêu thị, bếp ăn thì chấp nhận bán rau chỉ cần có giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn RAT. Kênh phân phối chính của RAT là từ vùng sản xuất qua hộ thu gom vùng tới chợ đầu mối, rồi qua thu gom chợ đầu mối đi tới cửa hàng, siêu thị, bếp ăn, hoặc các công ty thu mua. Mỗi ngày, mỗi HTX cung cấp từ 5-10 tấn RAT không hề có dấu hiệu nhận biết. Ở chợ đầu mối, RAT lâm vào cảnh “tắt đèn, nhà ngói cũng như nhà tranh” với rau không sạch. Chỉ có một vài trường hợp bán ở chợ Vân Nội và một phần rau HTX Văn Đức có tem, nhãn nhưng tới tay người tiêu dùng không tra được nguồn gốc thật sự. Cũng có các hộ thu gom tại chợ đầu mối, biển treo rau sạch, thực chất là kinh doanh điện lạnh, đồ gỗ, tạp hóa… sáng sáng ra chợ thu gom rồi giao rau. Một vài nhà trộn rau bẩn vào RAT để bán tại chợ đầu mối đủ để hạ uy tín cả một vùng rau như trường hợp xảy ra với rau Vân Nội.

Hệ thống giám sát của rau VietGAP bị đứt đoạn, chỉ thực hiện được ở vùng sản xuất, hoặc khu sơ chế nhưng khó truy xuất nguồn gốc. Qua thăm dò 7 cơ sở sản xuất theo hướng VietGAP thi có 3 cơ sở có chứng nhận, 4 cơ sở được công nhận năm 2009 nhưng hết hiệu lực. Nếu HTX không nằm trong chương trình hỗ trợ của chi cục bảo vệ thực vật thì không có tiền cho chi phí chứng nhận “nghìn đô” này. Tuy không được cấp tái chứng nhận, nhiều HTX vẫn tiến hành sản xuất “theo hướng VietGAP” và kêu gọi sự ủng hộ bằng niềm tin của công ty thu mua và người tiêu dùng qua các chuyến tham quan thực địa trên ruộng sản xuất. 40% rau VietGAP vào được các nhà hàng, siêu thị, bếp ăn… hoặc được bao tiêu, còn lại phải phân phối như RAT ra chợ đầu mối, cũng không ghi nguồn gốc xuất xứ. Đầu tư lớn, phí chứng nhận cao mà đầu ra phải cạnh tranh với RAT và rau không chứng nhận. Nông dân quay lưng lại với VietGAP là tất yếu.

90% rau hữu cơ được trồng ở Sóc Sơn-Hà Nội và Lương Sơn-Hòa Bình từ 2008 do các dự án phi chính phủ Đan Mạch tài trợ. Quy trình canh tác nông nghiệp hữu cơ hiện chưa được các cơ quan nông nghiệp Việt Nam chấp nhận nên chứng nhận PGS cho RHC cũng chưa được thừa nhận. Từ vùng sản xuất, rau được bán cho các công ty, cửa hàng theo hợp đồng định kì với giá cố định. Chu trình liên kết chặt chẽ, người bán hàng đảm bảo uy tín và chuyên tâm vào nghề, nhiều bên tham gia kiểm soát nên người tiêu dùng có thể an tâm về chất lượng. Tuy vậy, không thể không lo lắng cho tương lai của RHC khi rút các nguồn hỗ trợ và vẫn không được thừa nhận, liệu RHC có lâm vào hoàn cảnh như rau VietGAP do cần đầu tư hạ tầng nhiều hơn RAT? Kể cả được thừa nhận, thì lượng rau được kiểm soát các nguy cơ trên toàn chuỗi cung cấp cho Hà Nội chỉ vỏn vẹn 2-3 tấn/ngày!

Chứng nhận PGS có thể áp dụng với tất cả các chuỗi giá trị ngành hàng nông sản, huy động toàn bộ nguồn lực của cộng đồng trong quản lý: khâu sản xuất có giám sát chất lượng nội bộ và cơ quan, đại diện người tiêu dùng; khâu lưu thông có cam kết chất lượng của công ty, cửa hàng và người tiêu dùng giám sát; cơ quan nhà nước lấy mẫu kiểm tra xem quy trình có đúng tiêu chuẩn công bố hay không. PGS có thể là biện pháp giải quyết tiềm năng nhưng hiện giờ vẫn xa lạ với các vùng trồng RAT.

Bán lẻ khó khăn

Hơn 100 điểm bán từ trước 2005 tới nay chỉ còn 50 điểm bán (các chuỗi siêu thị, chuỗi cửa hàng được tính như 1 điểm bán). 90% trong số điểm bán được mở ra trong hai năm 2010, 2011. Các cửa hàng thành lập từ năm 2002,2003 đếm trên đầu ngón tay. 30% điểm bán lẻ gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, 34% khó khăn trong thu mua, 70% điểm bán kèm nông sản khác ngoài rau như nấm, trứng, thịt hộp, gạo, đồ khô… để lấy ngắn nuôi dài. Dễ hiểu nguyên do tại sao các siêu thị và cửa hàng tạp hóa không coi rau sạch như nguồn thu nhập, thậm chí đây là mặt hàng phải bù lỗ với mục tiêu đa dạng hóa sản phẩm, tăng sự tiện lợi cho khách hàng.

Nhiều chủ cửa hàng không biết và không phân biệt được các loại tiêu chuẩn rau sạch vốn dĩ rất đa dạng: RAT, RHC, VietGAP, PGS, GlobalGAP, AsiaGAP, ISO, Chỉ dẫn địa lý, Tự công bố, Chứng nhận địa phương… Chỉ có những cửa hàng lớn, chuyên về rau mới hiểu sự khác biệt giữa các loại tiêu chuẩn RAT, RHC; còn những người nhập rau để bán cũng chỉ biết trông chờ vào sự trung thực của nguồn cung cấp qua một tấm chứng nhận photo, đa phần không công chứng. Thiếu thông tin, thiếu kiến thức, rất nhiều cửa hàng rau không được tiếp cận với các hỗ trợ về tài chính cũng như kĩ thuật, đi theo đó là khả năng phát triển sản phẩm, đa dạng hóa mặt hàng và phát triển thị phần. Đa số điểm bán, kể cả các siêu thị lớn, không biết tới khoản hỗ trợ 1,5-2 triệu/ tháng của chi cục bảo vệ thực vật dành cho điểm bán rau an toàn, tới sự hỗ trợ truyền thông của hội người tiêu dùng, hỗ trợ chuyên môn kĩ thuật từ các viện nghiên cứu hoặc từ chính nhà cung cấp. Chưa có cơ sở kinh doanh rau mầm nào có chứng nhận điểm bán và sản phẩm, khó khăn vì rau mầm rất bổ, nhưng nhạt vị, lượng tiêu thụ thấp. Có điểm bán muốn xin chứng nhận cho đậu phụ, sữa đậu nành, giá đỗ, mía sạch… mà không biết kêu ai, hỏi ai.

Bên cạnh các cửa hàng, điểm bán kiên cố, còn có các quầy hàng tạm của các xã viên Vân Nội trong các chợ Nghĩa Tân, Bạch Đằng, Láng Thượng… Người bán rau rong tỏ ra lạnh nhạt với báo đài và nghiên cứu viên với lý do bao nhiêu người tới phỏng vấn, khách mua quen thì cứ mua, người không quen thì không mua, cũng chả có ích lợi gì. Lý do không phải nguyên nhân. Thực tế, sau sự cố uy tín của HTX Vân Nội, số quầy rau ở chợ Nghĩa Tân sụt giảm từ 12 quầy xuống còn 3 quầy, một quầy vẫn treo biển RAT, nhưng chuyển sang bán rau thường. Cũng là bài học chung cho các vùng rau đừng chạy theo lợi nhuận trước mắt mà hi sinh uy tín, bỏ mất nguồn lợi nhuận lâu dài.

Ngon, bổ nhưng không rẻ

Rau sạch đắt vì xấu hơn rau thông thường, không chỉ vì không có hóa chất tăng trưởng, mà còn vì bất cập trong quy hoạch đất sản xuất. Ruộng trồng rau sát ruông thường. Sâu bệnh bị đuổi từ ruộng thường sang phá vườn rau sạch. RAT với lượng thuốc hợp lý vẫn đỡ vất vả cho người nông dân hơn RHC phải đuổi sâu bằng rượu tỏi và các chế phẩm hữu cơ. RAT, RHC vì thế không mướt, không xanh, nhiều sâu hơn rau thường, thời gian sản xuất gấp 3,4 lần, nhưng cũng vì thế mà ngon ngọt thơm hơn rau thường.

Giá bằng 300%, độ tin tưởng chỉ là 30%, người tiêu dùng thời nay chỉ biết trào phúng “Bát rau chan đầy hóa chất, bay còn đục thủng túi ta”. Qua phỏng vấn người bán, giá rau sạch luôn ổn định so với sự biến động của thị trường rau. Khi giá thị trường giảm, các điểm bán rau chịu áp lực, bù lại, khi giá thị trường lên, giá rau sạch không tăng nhiều. Các điểm bình ổn giá cũng đặt ưu tiên cho các loại rau thường dùng nhất. Vì thế, đắt vì giá cao hơn, đắt vì thiếu niềm tin chỉ là dễ nhận thấy nhất, nhưng không phải trở ngại hàng đầu.

Trừ lượng ít ỏi RAT từ Đà Lạt phải vận chuyển đường hàng không với cước vận chuyển cao ngất 15000đ/kg, còn lại rau sạch tuân thủ mùa nào thức nấy, thiếu rau trái vụ, đặc biệt thiếu rau thơm thông thường. Cũng có hai ba nhà phân phối rau đặc sản, thích hợp cho nhà hàng, khách sạn… chứ người thường có dễ ăn đặc sản hằng ngày thay rau truyền thống. Được phần nào hay phần đó, người tiêu dùng vẫn chấp nhận bát rau nửa “tin nhau là chủ yếu”, nửa “khuất mắt khôn coi”.

Người bán luôn lo ngại vì nguồn cung rau không ổn định do dễ chịu ảnh hưởng của thời tiết, vào những tháng giao mùa hay chỉ cần một trận mưa to, hàng trở nên khan hiếm. Rau sạch khó bảo quản, chóng héo, dễ dập nát, hư hỏng. Trong một cuộc họp báo gần đây, đại diện người tiêu dùng than thở: các cháu mất công đưa hàng tới nhà, chả nhẽ mình chỉ mua một hai mớ, mà để tủ lạnh ít bữa là hỏng, không thấy thơm ngon nữa. Các điểm bán lớn hạ giá từ 10-20% xả hàng buổi chiều, điểm bán nhỏ như Hapro Long Biên, VieMart Phan Đình Phùng phát cho người làm. Hapro Hà Huy Tập có chính sách mua 5 mớ rau (giá mỗi mớ dao động quanh khoảng 10000 đồng), được 1 chai mắm 30000 đồng nhưng tình trạng sáng đặt rau lên kệ, chiều phát rau cho nhân viên mang về thường xuyên xảy ra.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: