Thuyền lớn, buồm căng, gió lộng

Xây dựng cơ sở hạ tầng và khuyến khích phát triển các ngành bổ trợ cho Marketing trực tiếp

Posted in Ecommerce, Eco_Marketing by Peony Hằng Phương on 20 Tháng Năm 2008

Xây dựng cơ sở hạ tầng và khuyến khích phát triển các ngành bổ trợ cho Marketing trực tiếp

1. Nhóm ngành liên quan đến Thương mại điện tử

Kế hoạch tổng thể phát triển Thương mại điện tử trong 5 năm 2006-2010 của nhà nước Việt Nam đề ra 4 mục tiêu cơ bản bao gồm 70% các doanh nghiệp lớn tiến hành giao dịch B2B và ứng dụng Thương mại điện tử ở mức cao; 90% doanh nghiệp vừa và nhỏ biết đến lợi ích của Thương mại điện tử và có ứng dụng nhất định; 15% hộ gia đình, cá nhân có thói quen mua sắm qua mạng (B2C); 30% mua sắm chính phủ được tiến hành trên mạng (B2G).

Để đạt được những con số trên, nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân Việt Nam sẽ phải cố gắng rất nhiều trong tình trạng hạ tầng Internet tại Việt Nam còn chưa hoàn thiện: Hiện nay chi phí cho dịch vụ Internet tại VN quá đắt. ADSL tốt nhưng tỷ lệ người sử dụng chỉ dưới 8%. Con số đó quá nhỏ bé so với hơn 70% của Hàn Quốc. Marketing trực tuyến, thanh toán trực tuyến… là những thị trường trong nước đầy tiềm năng hiện đang phát triển một cách tự phát tại các doanh nghiệp.

Nhà nước cần tạo ra môi trường lành mạnh, thuận lợi cho sự phát triển thương mại điện tử: cải tiến khung pháp lý, xây dựng hệ thống hạ tầng. Bên cạnh đó, khuyến khích bằng việc thông qua các dự án thí điểm, mô hình trung tâm hỗ trợ thương mại điện tử.

Đặc biệt, môi trường pháp lý dành cho Thương mại điện tử không những phải đi kịp với thời đại, mà còn phải đi trước thời đại trong những mặt sau:

· Mã bảo mật: Thiết lập Mã bảo mật thống nhất để các doanh nghiệp có thể thực hiện giao dịch trực tuyến an toàn, hiệu quả, thiết lập hệ thống Extranet an toàn… cho phạm vi giao dịch có thể diễn ra trong nước, trong khu vực, và toàn thế giới.

· Vận đơn điện tử : Trong kinh tế đối ngoại, việc sử dụng vận đơn điện tử là giải pháp được sử dụng ngày càng nhiều trên thế giới, với trường hợp của Việt Nam, trong tương lai gần cũng chưa thể áp dụng được mô hình này, song nhà nước cũng cần chuẩn bị sẵn sàng khung pháp lý, nguồn nhân lực… cho loại hình này. Nhà nước cần tiếp tục tuyên truyền, quảng bá cho hình thức giao dịch trực tuyến quốc tế.

2. Ngân hàng

3.2.1. Từ thanh toán bằng tiền mặt sang thanh toán thẻ

Hiện giờ, thanh toán bằng tiền mặt vẫn là hình thức thanh toán chính của người dân, song cùng với thời gian, việc thanh toán thông qua các phương tiện điện tử sẽ trở nên quen thuộc.

Trong năm vừa qua, nhà nước bắt đầu quan tâm tới việc quản lý nguồn thu nhập thông qua trả tiền lương bằng ATM, quan tâm và khuyến khích việc phát triển hệ thống thanh toán phù hợp với thời đại… Bước đi tới đây là thúc đẩy thanh toán điện tử, mua hàng từ xa…

Các ngân hàng cần chú ý đến đặc điểm của các khách hàng Việt Nam là giới trẻ thích sử dụng các dịch vụ hiện đại: Theo khảo sát từ việc chọn mẫu nghiên cứu ngẫu nhiên của McKinsey gồm 13.000 khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng tại các thành phố ở Việt Nam, khoảng cách giữa các thế hệ về thái độ đối với ngân hàng ở Việt Nam rõ rệt hơn tại các quốc gia châu Á khác. Theo đó, giới trẻ dường như “ưa chuộng” phương thức giao dịch ngân hàng kiểu mới như ngân hàng trực tuyến và ngân hàng nước ngoài, hơn người lớn tuổi. Dù các ngân hàng còn tham gia một cách rất khiêm tốn vào thị trường bán lẻ, nhưng tiềm năng của giao dịch ngân hàng là rất lớn. Các chuyên gia nghiên cứu cho rằng, thu nhập đem lại cho các ngân hàng hoạt động trong khu vực bán lẻ có thể tăng trưởng hơn 25% mỗi năm trong vòng 5 đến 10 năm tới – một tỷ lệ tăng trưởng cao nhất ở châu Á – nhờ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập của các hộ gia đình…Bình quân, khách hàng từ 21 – 29 tuổi sử dụng nhiều dịch vụ ngân hàng hơn các anh chị của họ, 91% giới trẻ có tài khoản tiết kiệm trong khi đó chỉ có 55% người lớn hơn 30 tuổi có tài khoản này. 89% giới trẻ có thẻ thanh toán ngân hàng so với bình quân 40% người già. Phân khúc 21-29 tuổi trong 5 năm tới sẽ là phân khúc quan trọng, có thu nhập, có thể ảnh hưởng tới chi tiêu của cả quốc gia.

2.2. Thống nhất liên minh thẻ

Thực trạng hiện nay của Việt Nam là các liên minh thẻ phát triển tự phát. Như vậy, hệ thống thanh toán trên cấp quốc gia sẽ bị phân mảnh thành các phần nhỏ lẻ, đương nhiên, kéo theo đó là việc các doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến phải phối hợp với nhiều bên hơn khi muốn thiết lập hệ thống thanh toán trực tuyến của doanh nghiệp mình.

Để làm thuận tiện quá trình thanh toán, Hiệp hội Ngân Hàng Việt Nam và các ngân hàng cần tiến hành thống nhất liên minh thẻ. Việc có một liên minh thẻ sẽ tạo điều kiện cho thanh toán dễ dàng hơn cho dù việc thống nhất là rất khó khăn. Các ngân hàng Việt Nam cần thống nhất với nhau về hạ tầng, về lợi ích của mỗi ngân hàng khi tham gia liên minh thẻ, trong đó, kể đến lợi ích mà liên minh thẻ đem lại cho người tiêu dùng.

3 Bưu chính

Thực tế của thế giới là ngành bưu chính đóng vai trò cực kì quan trọng trong phát triển Marketing trực tiếp. Các bưu điện quốc gia tại các nước phát triển luôn luôn có một doanh nghiệp, hoặc một bộ phận… chăm sóc các dịch vụ liên quan như: giao bưu phẩm, gửi hàng tại nhà, in ấn, sưu tập địa chỉ khách hàng… Những bộ phận này thường đóng góp một phần lớn vào doanh thu hàng năm của các bưu điện.

3.3.1. Thiết lập những công ty chuyên trách về Marketing trực tiếp trong ngành bưu chính

Việc có một công ty riêng phụ trách Marketing trực tiếp cho bưu điện quốc gia với chức năng tư vấn thông tin, cung cấp dịch vụ… sẽ đem lại nguồn thu lớn cho ngành, tăng sự chuyên nghiệp cho các hoạt động liên quan đến bưu chính như dịch vụ tổng đài, dịch vụ giao hàng, dịch vụ thư tín… Những công ty này có thể sử dụng luôn ưu thế của bưu điện là có sẵn và có khả năng thu thập dễ dàng thông tin về khách hàng: địa chỉ, điện thoại, ấn phẩm thường đặt…, chuyên môn hóa trong việc soạn thảo tin nhắn, gửi bưu phẩm…

3.2. Đẩy mạnh dịch vụ thư tín, giao hàng, chuyển phát nhanh

Tại các nước phát triển trên 95% bưu kiện được chuyển đến sớm hoặc đúng thời hạn. Tại Việt Nam, chưa có thống kê chính thức, nhưng chắc chắn không thể đạt đến con số trên vì những lý do: điều kiện giao thông, khả năng của bưu điện… Hiện nay, ngoài Bưu điện quốc gia với trụ sở ở các tỉnh, còn có dịch vụ bưu chính của các công ty tư nhân tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh…

3.3. Chuyên môn hóa dịch vụ tổng đài

Hiện tại, mô hình hoạt động của tổng đài 1080 đã thành công, ngành bưu chính có thể nhân mô hình này lên thành dịch vụ trả lời, tư vấn sản phẩm cho các doanh nghiệp ngoài ngành… Tổng đài có thể thu phí dựa trên các quảng cáo phát trong giờ chờ của khách, hoặc có riêng một kênh tư vấn sản phẩm, hay phát triển đội ngũ điện thoại viên chuyên nghiệp để cho thuê…

4. Truyền thông

Ngành truyền thông Việt Nam đang bước vào thời kì đỉnh cao của mình. Sự can thiệp sâu của nhà nước vào hoạt động của ngành là không cần thiết. Tuy vậy, việc phát triển hạ tầng truyền thông lại là việc không ai có thể làm tốt bằng nhà nước.

Trong thời gian tới, Việt Nam cần hoàn chỉnh hạ tầng trong các lĩnh vực sau: hệ thống phủ sóng wifi cần nâng cấp để có tốc độ đường truyền nhanh hơn, khả năng phủ sóng tại tất cả các thành phố và các khu vực đông dân cư; hệ thống; chính phủ có thể khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng công nghệ phủ sóng không dây 3G, sử dụng truyền tin qua vệ tinh… đưa các công nghệ di động mới vào đời sống. Nhà nước cũng cần đưa công nghệ thông tin về vùng nông thôn và trong đào tạo tại tất cả các cấp.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: