Thuyền lớn, buồm căng, gió lộng

Điều kiện thuận lợi để phát triển Marketing trực tiếp tại Việt Nam

Posted in Ecommerce, Eco_Marketing by Peony Hằng Phương on 20 Tháng Năm 2008

Điều kiện thuận lợi để phát triển Marketing trực tiếp tại Việt Nam

1. Kinh tế

1.1. Nền kinh tế trẻ đang trên đà phát triển

Kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển với mức GDP bình quân đạt 7,5%/ năm trong 5 năm 2001 – 2005 và 8,17% năm 2006. Thu nhập quốc dân theo GDP năm 2007 tính bình quân đầu người đạt 835 USD, tăng 15 USD so kế hoạch, với tốc độ tăng 8,44%, Việt nam chỉ đứng thứ 3 châu Á (sau Trung Quốc: 11,3% và Ấn Độ khoảng: 9%) và cao nhất trong các nước ASEAN (6,1%).

Tốc độ tăng trưởng GDP cả 3 khu vực kinh tế chủ yếu đều đạt mức khá: Khu vực nông – lâm nghiệp và thủy sản ước tăng 3,0%/ so với mức 3,32% cùng kỳ 2006, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,33% (riêng công nghiệp tăng 10,32%) so với mức 10,4% và 10,32% cùng kỳ và khu vực dịch vụ tăng 8,5%/ so với mức 8,29% của năm 2006. (tính theo giá so sánh năm 1994).

Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đem lại thu nhập cao cho người dân, thu nhập cao, tới lượt nó, lại thúc đẩy mua sắm và tâm lý muốn hưởng thụ sản phẩm và dịch vụ cao cấp hơn.

1.2. Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi nâng cao sức cạnh tranh

Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO và thực hiện cam kết PNTR với Hoa Kỳ, các sự kiện hội nhập kinh tế đem lại nhiều hiệu ứng có tác động thúc đẩy sự phát triển của Marketing Việt Nam:

· Thị trường xuất khẩu mở rộng, các rào cản thương mại Việt Nam với các nước thành viên WTO được dỡ bỏ hoặc hạn chế, tức là chúng ta có khả năng “đem chuông đi đánh xứ người”. Muốn thâm nhập vào thị trường quốc tế, doanh nghiệp cần nâng cao khả năng cạnh tranh, trong đó có khả năng Marketing.

· Thị trường trong nước ngày càng cạnh tranh khốc liệt: các công ty Việt Nam, các công ty nước ngoài…Các doanh nghiệp nói chung sẽ đầu tư nhiều hơn nữa cho thương hiệu hiện tại của mình, để có thể đủ sức chống lại sự xâm nhập của các tập đoàn nước ngoài trên sân nhà.

1.3. Chuyển dịch cơ cấu theo hướng có lợi cho các ngành dịch vụ

Tỷ trọng GDP khu vực nông – lâm nghiệp – thủy sản giảm còn dưới 20,0%/ so với 20,81% năm 2006, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng dần và chiếm trên 41,7% so với 41.56% và khu vực dịch vụ tăng nhẹ, chiếm 38,30% so với 38,08% trong 2 năm tương ứng. Điểm nổi bật trong năm 2007 là tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng cao và tốc độ tăng khá ổn định, quý sau cao hơn quý trước, trong điều kiện có khó khăn nhiều mặt, nhất là dịch vụ vận tải, du lịch, thương mại, tài chính ngân hàng trong bối cảnh hội nhập WTO. Xu hướng phát triển khu vực dịch vụ sẽ tiếp tục với tốc độ ngày càng nhanh trong nhiều năm tới. Marketing trực tiếp cũng sẽ không nằm ngoài xu hướng trên.

Bên cạnh đó, việc phát triển công nghiệp và dịch vụ cũng nói lên rằng tầng lớp trung và thượng lưu bắt đầu xuất hiện đông hơn, đây là khách hàng tiềm năng của Marketing trực tiếp. Các sản phẩm của ngành công nghiệp và dịch vụ cũng là các sản phẩm có thể sử dụng Marketing trực tiếp để quảng bá.

1.4. Đô thị hóa làm tăng lượng khách hàng

Khu vực công nghiệp và dịch vụ phát triển sẽ làm tầng lớp trung và thượng lưu xuất hiện ngày càng nhiều, kèm theo đó là yêu cầu tăng cả về chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng của doanh nghiệp.

Hiện tượng đô thị hóa với biểu hiện dân cư từ nông thôn dịch chuyển sang đô thị và các khu công nghiệp ; các thành phố ngày càng đông đúc hơn, nạn tắc đường xảy ra vào giờ cao điểm trở nên đương nhiên. Việc mua sắm, đưa hàng càng ngày càng bất tiện và trở nên đắt đỏ hơn việc ngồi nhà và nhấp vài cú click chuột. Đó là chưa kể đến việc bán hàng từ xa thường rẻ hơn so với giá cả thông thường.

1.5. Thương mại điện tử và Marketing điện tử phát triển

Thương mại điện tử không còn là một khái niệm xa lạ với người dân Việt Nam, và hiện được coi là một trong những phương tiện tốt nhất để Việt Nam chóng đi tắt đón đầu, đuổi kịp thế giới.

Theo Euromonitor, thị trường của ngành thương mại điện tử Việt Nam sẽ tăng trưởng 202,8% vào năm 2010 so với thời điểm hiện tại. Theo báo Nhân Dân, 10% các hộ tiêu dùng sẽ sử dụng dịch vụ mua bán online vào năm 2010. Theo ACNielsen, có 45% hộ gia đình tại Việt Nam có máy tính cá nhân, và 72% có điện thoại di động. Đây là những điều kiện để phát triển việc mua bán từ xa và việc quảng cáo cá nhân.

2. Công nghệ

Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc trong việc xây dựng hạ tầng công nghệ. Các phương tiện thông tin đang dần trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người dân, là cầu trung chuyển cho các thông điệp của Marketing trực tiếp.

2.1. Công nghệ thông tin

Sự kiện Intel, sự kiện Microsoft… đã đưa Việt Nam vào bản đồ công nghệ thông tin toàn thế giới. Bên cạnh các sản phẩm phần mềm nước ngoài, giờ đây, người Việt Nam có thể sử dụng phần mềm của người Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam đã có thói quen tham khảo lời khuyên từ các công ty giải pháp tin học trong và ngoài nước.

2.2. Công nghệ truyền thông

Đặc điểm chung của các kênh truyền thông Việt Nam hiện nay là : càng ngày càng thêm nhiều kênh, thêm chương trình, đặc biệt là các chương trình giải trí, thời lượng dành cho quảng cáo ngày càng nhiều…

Về Truyền hình: Truyền hình Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể, đặc biệt về mặt công nghệ trong những năm gần đây: từ việc phát thêm nhiều kênh mới, có mạng truyền hình cáp, DTH, MMDS và Internet băng thông rộng… Truyền hình đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân cả nước. Người ta còn dự đoán đến năm 2020, Việt Nam sẽ có truyền hình tương tác-điều kiện tuyệt vời để phát triển Marketing trực tiếp

Về phát thanh: Đáng chú ý nhất là nội dung các quảng cáo phát thanh khá vui nhộn, tuy không có lợi thế vì thiếu hình ảnh, nhưng ý tưởng và cách thức diễn xuất gây chú ý. Các chương trình giải trí trên sóng phát thanh cũng là tâm điểm chờ đợi của nhiều bạn trẻ.

Về Internet: Theo Internet World Stats, Ước tính có khoảng 14 913 652 người sử dụng Internet tại Việt Nam vào tháng 1 năm 2007, chiếm 17,5% dân số, chiếm 3,7% cư dân mạng châu Á. Con số này đã tăng 7 356,8% so với thời kì năm 2000 khi mới chỉ có 200 000 người sử dụng. Chính phủ đã tuyên bố tăng tỉ lệ trên lên tới 35% vào năm 2010, và sẽ đầu tư 100,5 nghìn tỉ đồng (khoảng 6,3 tỉ đô la) để đạt được mục tiêu.

Về điện thoại di động: theo Wireless Asia, 3 năm trở lại đây, thị trường điện thoại di động của Việt Nam phát triển rất mạnh, hơn cả sự phát triển kinh tế nói chung. Số thuê bao lên tới 17 triệu, nhảy vọt 70% so với năm trước chỉ có 7 triệu người. Người ta dự đoán, Việt Nam sẽ có 46 triệu thuê bao vào năm 2010, phát triển khoảng 270% so với thời điểm hiện nay.

3. Xã hội

3.1. Người tiêu dùng cân đối giữa giá và chất lượng sản phẩm và dịch vụ

Hiện nay, người tiêu dùng Việt Nam luôn đi tìm sự cân đối giữa giá và chất lượng hay lợi ích mà sản phẩm mang lại. Hầu hết không lựa chọn sản phẩm vì giá rẻ nhất kể cả nhóm thu nhập thấp nhất. Người tiêu dùng trình độ cao và có thu nhập cao có xu hướng đặt nhiều trọng số cho chất lượng cao nhất mà không quan tâm đến giá. Tuy nhiên khi đánh giá chung về các tiêu chí lựa chọn sản phẩm, họ đã cho rằng công dụng, độ bền và hiệu quả của sản phẩm chính là tiêu chí lựa chọn hàng đầu, sau đó là thương hiệu, kiểu dáng- mẫu mã- màu sắc, chất lượng dịch vụ và cuối cùng mới là giá cả – khuyến mãi. Họ không mấy mặn mà với các hình thức khuyến mãi, đặc biệt là các hình thức rút thăm trúng thưởng vì họ cho rằng cơ hội rất thấp. Họ thích các hình thức quà tặng, giảm giá trực tiếp, hay tăng khối lượng của sản phẩm. Họ cũng tỏ ra hoài nghi về mức độ trung thực của các chương trình khuyến mãi và một số còn cho rằng khuyến mãi thường được dùng cho các sản phẩm tồn kho có chất lượng kém.

Bên cạnh đó, nhu cầu cả nhón thu nhập cao và nhóm trình độ cao, đặc biệt rõ nét ở nhóm tuổi 8x, và nửa cuối 7x, là muốn đi tìm sự khác biệt, tính độc đáo của sản phẩm để qua đó thể hiện bản thân mình, làm “nổi bật” mình trong đám đông. Họ quan tâm nhiều đến thương hiệu, mẫu mã, yêu thích các hình thức tiêu dùng mới như mua bán hàng qua mạng internet, quan tâm tìm kiếm và dùng thử các sản phẩm và dịch vụ mới giới thiệu trên thị trường. Họ quan tâm nhiều đến hình thức bề ngoài và thống nhất rằng nam giới cũng cần quan tâm đến hình thức bên ngoài và có thể sử dụng các loại mỹ phẩm. Họ cũng muốn dành nhiều thời gian cho bản thân và gia đình hơn, do vậy rất quan tâm đến các sản phẩm và dịch vụ mới có thể giảm gánh nặng của những công việc nội trợ, việc nhà, hay bếp núc. Nhóm này thể hiện khuynh hướng trung thành với các thương hiệu quen khá cao. Tuy vậy cũng cần nhớ rằng họ không bảo thủ với cái mới và do vậy luôn có cơ hội cho những thương hiệu và sản phẩm mới ưu việt hơn.

3.2. Các phương tiện tham khảo thông tin mua sắm ở thế có lợi cho Marketing trực tiếp

Khi ra quyết định mua cho từng loại sản phẩm cụ thể, người tiêu dùng tham khảo những nguồn thông tin khác nhau. Chẳng hạn khi mua quần áo, mỹ phẩm, 60% người tiêu dùng dựa chủ yếu vào kinh nghiệm cá nhân, 43% dựa vào tư vấn của bạn bè và người thân. Còn khi mua xe máy hay xe hơi, 47% dựa vào bạn bè, người thân, 32% dựa vào thông tin trên quảng cáo. Tỷ trọng người tiêu dùng tham khảo thông tin trên internet tuy còn khiêm tốn nhưng cũng khá quan trọng đối với một vài chủng loại sản phẩm có giá trị cao như thiết bị tin học, xe máy, xe hơi, điện máy hay trang thiết bị nội thất.

Nhóm tuổi càng trẻ, đặc biệt là 8x,9x trình độ văn hoá càng cao thì internet càng là một kênh tham khảo quan trọng. Đáng ngạc nhiên là hình tượng ca sĩ, người mẫu, diễn viên điện ảnh không phải là nguồn tham khảo thông tin được họ cho là quan trọng đối với hầu hết các nhóm sản phẩm; riêng với nhóm quần áo, mỹ phẩm cũng chỉ có 5% người tiêu dùng cho đây là kênh tham khảo chính.

Trong một ngày, trung bình người tiêu dùng dành khoảng 40 phút đọc báo, 45 phút chơi thể thao, thư giãn, và 68 phút cho truy cập Internet. Lượng thời gian này tăng cùng chiều với trình độ và thu nhập của người tiêu dùng và ngược chiều với độ tuổi của họ. Người tiêu dùng độc thân có nhiều thời gian cho thư giãn, đọc báo, thể thao, internet hơn hẳn những người đã có gia đình. Tương tự nam giới cũng có nhiều thời gian cho những việc này hơn nữ giới. Trung bình một người tiêu dùng có 5 hình thức giải trí và đọc 3 tờ báo. Hình thức giải trí phổ biến nhất là đọc sách báo và xem tivi. Đi mua sắm đứng hàng thứ 5 về mức độ phổ biến như một hình thức giải trí với hơn 38% người tiêu dùng lựa chọn. Hầu hết người tiêu dùng vẫn thích đọc báo in nhưng cũng có một tỷ lệ đáng kể 17% thường xuyên đọc báo trên internet.

Khi đọc báo, khá nhiều người tiêu dùng thích xem các phụ trang quảng cáo. Mức độ thường xuyên xem các phụ trang này đặc biệt cao ở nhóm có trình độ cao, trẻ tuổi, nữ giới, người độc thân… Các chương trình truyền hình thường xem nhất là thời sự trong nước – quốc tế, phim truyện, trò chơi truyền hình, và giải trí quốc tế.

3.3. Nữ quyền hóa

Là một quốc gia đang phát triển, mức sống người dân chưa phải cao so với thế giới, chính vì vậy, mà phụ nữ Việt Nam rất tích cực trong việc tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của xã hội. Thời gian dành cho mua sắm giảm đi, việc mua sắm qua mạng hay qua người bán hàng trực tiếp sẽ được chị em ưu ái. Không chỉ có vậy, phụ nữ Việt Nam có thể sử dụng Marketing trực tiếp như một phương thức kiếm thêm thu nhập cho gia đình vì họ có khả năng tâm sự và giao tiếp trời phú. Các dịch vụ như dịch vụ tổng đài, dịch vụ bán hàng trực tiếp, dịch vụ tư vấn… dường như là lĩnh vực riêng của phái nữ.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: