Thuyền lớn, buồm căng, gió lộng

Chương ii NGUỒN LUẬT ĐƯỢC DÙNG CHO VẬN ĐƠN ĐIỆN TỬ

Posted in HẰNG PHƯƠNG by Peony Hằng Phương on 30 Tháng Mười Một 2007

Chương
ii

NGUỒN
LUẬT ĐƯỢC DÙNG CHO VẬN ĐƠN ĐIỆN TỬ

Những tổ chức liên quan đến hành lang pháp lý cho vận đơn
đường biển là những tổ chức thuộc Liên Hợp quốc có liên quan đến thương mại
quốc tế, ủy ban kinh tế châu Âu, CNUDCI, ủy ban hàng hải quốc tế, phòng thương
mại và công nghiệp quốc tế.

I.
Chuẩn hóa quốc tế

Nguyên tắc của EDI cho phép sử dụng một ngôn ngữ mà mọi máy
tính trong cuộc đều có thể hiểu được : vậy là phải tiêu chuẩn hóa ngôn
ngữ, định dạng của văn bản, và thông tin chứa trong nó… làm sao để những người
sử dụng chỉ việc điền vào.

Giới chuyên môn đã hiệu chỉnh hệ thống ODETTE dựa trên các
tiêu chuẩn của EDI. Song , đó vẫn là hệ thống đóng. Ở tầm thế giới, những
chuyên gia vẫn phải nghiên cứ những hệ thống truyền dữ liệu có khả năng truyền
thông nội bộ, tức là tuân thủ những quy tắc kĩ thuật chung. Đó là lý do tại sao
mà LHQ quan tâm đến việc đơn giản hóa những thủ tục thương mại giữa các nước
thành viên và cho các nước tự đưa ra lộ trình để làm việc ấy.

Như vậy, nhóm chuyên gia tại Ban kinh tế châu Âu (trụ sở
Genève) đã tạo lập UN-EDIFACT (United Nations Electronique Data Interchange For
Administration Commerce And Trade) có mục tiêu chi phối việc trao đổi dữ liệu
số hóa trong hành chính, thương mại, vận tải.

1.
Ngôn ngữ EDI

3 tiêu
chuẩn cơ bản khi thiết lập ngôn ngữ EDI:

1.1. Nhập liệu thống nhất

Thông tin được trao đổi giữa các bên trong suốt thời gian
thực hiện hợp đồng thương mại và logistic, bắt đầu từ người gửi hàng cho đến
người nhận hàng qua những người chuyên chở, nhân viên cảng. Trong quá trình
trao đổi đó, thông tin không bị thay đổi.

1.2. Truyền tải thống nhất

Với vận đơn truyền thống, dữ liệu được xuất hiện bằng nhiều
loại giấy tờ khác nhau. Thông tin được xuất hiện làm bằng chứng như chấp nhận
đặt hàng, hóa đơn, bảng kê hàng hóa, … Cứ mỗi khi cần giấy tờ mới, dữ liệu lại
được ghi chép lại một lần. Với EDI, thông tin được chuyển từ máy tính này sang
máy tính khác, không phải nhập lại.

1.3. Cơ sở dữ liệu được liên kết

2 tính chất trên chỉ có thể thực hiện được khi ngôn ngữ EDI
dựa vào việc liên kết cơ sở dữ liệu. Thông tin được nhập vào một lần duye nhát
và được trao đổi khi có nhu cầu, tránh việc trùng lắp và các lỗi sai.

Như vậy, ngôn ngữ UN/EDIFACT cho phép làm nhẹ đi công việc
văn phòng, giảm việc soạn thảo trung gian tẻ ngắt, thường là nguyên nhân của
lỗi văn bản và chẳng đem lại chút giá trị gia tăng nào.

2.
Ngôn ngữ EDIFACT

2.1. Trung tính 

Bình diện ngôn ngữ :

EDIFACT xác định một vài quy tắc trình bày, phân nhóm và
truyền đạt thông tin vốn độc lập về ngôn ngữ : càng ngày, dữ liệu càng
được mã hóa nhiều hơn (như các mã được cấu tạo từ chữ latinh và số Ả rập)

Với máy móc :

EDIFACT có thể sử dụng được với bất kì loại máy tính nào
tham gia vào quy trình truyền tin : mọi nhãn mác, mọi loại máy, mọi tốc
độ, mọi hệ điều hành. Việc phổ cập hóa cho phép EDI và EDIFACT trở nên mở hơn.

Về chuỗi truyền tin hay nguồn cung cấp tin:

Những dữ liệu tiêu chuẩn hóa và được « đóng gói »
theo những quy định của  EDIFACT đều
chuyển ngữ được thành dạng đơn giản hoặc dạng hàn lâm … và có thể đem in bất cứ
lúc nào.

2.2. Sự thích ứng của EDIFACT

Những tổ chức có liên quan có trách nhiệm hàng đầu là tạo ra
sự linh hoạt của ngôn ngữ EDIFACT một cách thường xuyên và đáp ứng nhu cầu của
người sử dụng. Người sử dụng có thể đòi hỏi sự bổ sung, hoặc loại trừ, hoặc
thay đổi với những quy tắc được ban bố.

Sự thích ứng này đảm bảo sự tồn tại lâu dài của ngôn ngữ này
và đảm bảo cho doanh nghiệp đầu tư vào hệ thống ngôn ngữ EDI. Ngôn ngữ EDI có
thể tự thích ứng, mà không cần đến sự thay đổi một một cách căn bản các trang
thiết bị.

3.
Ngôn ngữ UN/EDIFACT

3.1. Từ vựng

Danh mục các thành phần dữ liệu thương mại (“ Répertoire
d’Eléments de Données Commerciales ”) (Trade Data Elements Directory)
Norme Iso 7372 , chứa danh sách của 800 khái niệm cơ bản cần dùng trong giao
dịch thương mại, nghiệp vụ logistic và những quan hệ hành chính giữa các doanh
nghiệp.

Từng dữ liệu được cá nhân hóa, gọi tên, đánh số, mô tả hoặc
giải thích, và được phân loại.

Chúng được kết hợp với nhau bằng quy tắc tái xuất trình. Quy
tắc này xác định loại kí tự được sử dụng, số lượng kí tự cần thiết, tính chất
của việc mã hóa, kì hạn xuất trình… Việc thông báo thời gian hiệu lực cũng chấm
dứt khi thông điệp được đem in.

3.2. Ngữ pháp

« Những quy tắc cú pháp được áp dụng »“ règles
de syntaxe au niveau de l’application ” (Norme Iso 9735) có nhiệm vụ giới
thiệu những dạng thức sắp xếp dữ liệu 
phân đoạn. Các đoạn được tập hợp để lập nên thông điệp. Và thông điệp
cùng loại sẽ được gửi đi cùng nhau.

3.3. Thông điệp chuẩn

Cú pháp vận hành như một tập hợp những quy tắc sắp xếp cơ sở
dữ liệu. Nó cho phép xây dựng thông điệp, đơn vị cơ bản của truyền thông từ xa.

Những thông điệp tiêu chuẩn hóa bao trùm nhiều bước của hoạt
động thương mại : chào hàng, hỏi giá, đặt hàng, hóa đơn, thư vận tải biển…

Vào năm 1997, ước tính có 25 000 doanh nghiệp Pháp sử dụng
EDI, chiếm 17% các doanh nghiệp có trên 10 nhân viên và 65% các doanh nghiệp có
trên 300 nhân viên, lượng thông điệp được gửi đi ước tính lên đến 407 triệu. Trên
bình diện thế giới, người ta ước tính có đến 2 500 000 người sử dụng, và tới
năm 2008 thì có khoảng 3 triệu người.

II.
Những quy tắc điều chỉnh vận đơn điện tử

1.
Incoterms 2000

Việc số hóa vận đơn đã ảnh hưởng tới thanh toán tín dụng
chứng từ, dẫn đến những thay đổi của RUU và của Incoterms.

Những sự thay đổi này là cần thiết bởi những quy tắc được
công bố bởi ICCvề tín dụng chứng từ được sử dụng rất rộng rãi, và cũng rất khắt
khe. Hơn nữa, mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế trong chuyên chở và
buôn bán hàng hóa quốc tế, không cho phép đặt ra những câu hỏi một cách tùy
tiện.

ICC đề xuất tạo ra một sự tương thích thông tin giữa Incoterms
và việc sử dụng EDI : Editerms. Áp dụng Incoterms cho những dữ liệu được
mã hóa trong một tài liệu liên quan đến nghiệp vụ mua bán hàng hóa, điều này
yêu cầu phải phát triển hệ thống mã hóa và đưa nó vào một cuốn từ điển chuyên
về luật của EDI. Khó có thể nói rằng đó là một cuộc cải cách, song nó sẽ đem
lại nhiều thuận lợi. Việc sử dụng tiêu chuẩn như vậy sẽ giúp cho ta không phải
chỉ rõ các điều kiện chuẩn trong mỗi thông điệp. Cùng một lúc, vẫn cần đơn giản
hóa các thủ tục thương mại quốc tế, song song với việc phát triển EDI.

2.
Luật mẫu CNUDCI 1996

Vào năm 1996, CNUDCI, với nhiệm vụ phải tạo ra sự hòa hợp và
thống nhất về luật thương mại quốc tế, đã chấp nhận một luật mẫu mang
tên : « luật mẫu về thương mại điện tử ». Mục đích của luật mẫu
này, là cho phép nhà làm luật có thể hình dung những chướng ngại khi sử dụng
những phương tiện truyền thông hiện đại, để đưa ra các giải pháp chữa trị cho
những thiếu sót đã được nhận thấy bằng cách chấp nhận luật mẫu hoặc đưa luật
mẫu vào quá trình xây dựng các quy tắc mới. Trường hợp lý tưởng nhất, là tất cả
các quốc gia đều chấp nhận luật này, và luật sẽ trở thành luật thống nhất toàn
cầu về thương mại điện tử.

3.
Các quy tắc điều chỉnh thống nhất về sự trao đổi dữ liệu thương mại bằng các
phương tiện điện tử

Các quy tắc này làm thành luật điều chỉnh môi trường cho EDI
hoạt động : an toàn trong trao đổi, thay đổi, xác nhận, xác thực , lưu
trữ…., được công bố vào năm 1987, là kết quả của một thời kì lao động dài từ
năm 1960 bở các chuyên gia của ủy ban kinh tế Châu Âu.

Các quy tắc cho phép chuyển tiếp lên thời đại dữ liệu số,
được sử dụng không bắt buộc, các bên tham gia cần dẫn chiếu tới thì các quy tắc
mới có tác dụng. Quy tắc điều chỉnh xác định quyền và nghĩa vụ các bên sử dụng
EDI. Nhưng những quy tắc này vẫn chưa hoàn thiện và còn rất nhiều câu hỏi chưa
có câu trả lời. Khi các quy tắc này được hoàn thiện, thì những hợp đồng trao
đổi quốc tế sẽ được thực hiện ở nhiều quốc gia, với mọi nền luật pháp khác
nhau.

4.
Các quy tắc của CMI

Ủy ban hàng
hải quốc tế (Comité Maritime International) rất quan tâm tới vận đơn điện tử từ
đầu những năm 80. Vào thời ấy, nhiều người trong cộng đồng hàng hải nghĩ rằng
việc số hóa vận đơn có thể chuyển nhượng sẽ khó có thể thực hiện được vì có quá
nhiều chướng ngại về mặt luật pháp. CMI đã quyết định chứng minh những khó khăn
có thể được vượt qua với phần lớn các hệ thống luật. 29/6/90 C.M.I. đã bỏ phiếu
tại hội nghị tại Paris “ Les règles du C.M.I. pour le Connaissement Electronique ” :
những quy tắc của CMI về vận đơn điện tử.

Những quy
tắc này không có thiên hướng bắt buộc của luật pháp, mà được sử dụng theo thỏa
thuận hợp đồng. Những bên có liên quan phải thỏa thuận sử dụng chúng trước khi
thỏa thuân sử dụng EDI để làm cho các giao dịch có hiệu quả. Giải pháp hợp đồng
được ưa thích hơn so với giải pháp áp đặt bởi vì đây là lĩnh vực thương mại.

 5. Quy tắc BOLERO

Vào năm
1991, BIMCO đã có ý tưởng áp dụng các quy tắc của CMI 1990. Dự án đã được thực
hiện, nếu không thiếu sự quan tâm của các nhà đầu tư. Sau thất bại này, Liên
minh châu Âu, trong chương trình INFOSEC với mục tiêu phát triển EDI và những
thành tựu kĩ thuật mới trong thương mại tại Châu ÂU, đã quan tâm đến vấn đề
này. Vào năm 1993, những người có trách nhiệm phát triển dự án này đã đưa ra
một mời thầu tạo ra một vận đơn đienj tử. Dự án mang tên BOLERO.

BOLERO là
một hệ thống quản lý dữ liệu và truyền thông hiệu quả. Phần máy chủ bộ ghi
trung tâm trong đó chứa dưới dạng dữ liệu tất cả các giao dịch thương mại và
thông tin về hàng hóa, mọi quá trình thủ tục hành chính… tuân thủ một cách
nghiêm ngặt vấn đề thời gian. Hệ thống bảo mật sử dụng khóa số.

Khi có một
người bán (hoặc mua FOB) muốn xác định một hợpd dồng vận tải, hệ thống BOLERO
cho phép anh ta lưu cước trên tuyến đường lựa chọn và đưa cho người chuyên chở
mọi thông tin cần thiết về hàng hóa. Người chuyên chở, dựa vào các thông tin
trên, phát hành một vận đơn và lưu lại ở máy trung tâm. Thông tin sẽ được sử
dụng khi có khóa điện tử.

6.
Những luật riêng về giao dịch điện tử ở các nước

2000

Droit Uniforme de
Transaction Électronique des États Unis(UETA)
Droit de Signature Électronique de l’Allemand (Electronic Signature Bill)

1999

Droit de
Protection des Informations Privées et des Documents Électroniques du Canada

1998

Droit de Commerce
Électronique de Singapour(Electronic Transaction Act 1998)

1999

Droit de
Transaction Électronique de l’Australie

13/12/1999

Acte juridique de
Signature Électronique de l’UE

1/10/2000

Droit de
Signature Électronique dans le Commerce National et Global (Electronic
Signatures in Global and National Commerce-E-sign Act)

7/1/2000

Décret de
Transaction Électronique de Hongkong(E-transaction Ordiance)

25/7/2000

Droit de
Communication Électronique de l’Anglais (Electronic Communications Act 2000)

Le Vietnam
ont déjà le Droit de Transaction, Arrêté de Signature Électronique et de
Service Certification Électronique

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: