Thuyền lớn, buồm căng, gió lộng

Bồ tát Tịnh Thí


Lời tựa đầu:

Trong việc giáo hóa sanh chúng, chư
Phật và chư Bồ Tát đã không quản ngại xuống cõi trần lao đầy các
sự bất tịnh, các chúng sanh hung ác, cứng đầu, không biết phục thiện,
để mà nới rộng vòng tay độ cho những ai đáng được độ, giúp chúng
sanh được tăng thêm phước lành, gom tóm các phước đức, trí tuệ
để cùng một thời được cùng sanh một nơi có Phật ra đời, hoặc
được vãng sanh đến các cõi Phật mà học hỏi thêm cho mau đạt
được chơn giải thoát.



Nói
chung, cũng vì chúng sanh bị cái u mê bao phủ, cho nên có Phật đó, có
Bồ Tát đó, mà không biết thưa hỏi, không biết dụng cái kho tàng trân
bảo vô giá đó.  Vì vậy, các
ngài phải hóa hiện các duyên, các ngài phải lập ra các câu hỏi mà
thỉnh cầu Như Lai tuyên dạy.  Chính
vì thế mà Như Lai ngợi khen tán thán các vị Ðại Bồ Tát 
vì thương xót các chúng sanh đời nay và đời mai sau mà khéo
hỏi Như Lai.  Chính vì thế mà
ông cư sĩ Duy Ma Cật hiện thân có bệnh, tạo cơ hội cho các vị Bồ Tát
và sanh chúng đến thăm mà gây một trận mưa pháp thấm nhuần cho tất
cả.  Chính vì thế mà ngài Ðại
Trí Văn Thù Sư Lợi, vị tiêu biểu cho sự toàn trí, đã phải thưa thỉnh
Phật nhiều lần giãng thuyết các pháp Ðại Thừa diệu thâm. Ðại Ðức
Tu Bồ Ðề, vị tiêu biểu cho chơn Không , đã thưa thỉnh Phật thuyết
Bát Nhã Kim Cang (Vô Tướng, Vô Niệm, Vô Cầu) khiến cho bao nhiêu chúng
hữu tình được hằng hà sa ích lợi. 
Nay trong kinh này, một vị cư sĩ cũng sẽ thưa thỉnh Phật như vậy,
khiến cho bao nhiêu hữu tình được bao ích lợi, và chúng ta cũng cùng
vượt thời gian, quay về quá khứ mà đồng dự pháp hội này.

Chúng
ta đã rõ về ngài Duy Ma Cật (Vimalakirti) qua Kinh Duy Ma Cật 
và Hoàng Hậu Thắng Man (Srimala) qua kinh Mạn Thừa Thắng Man Sư Tử
Hống.  Nay tôi xin cúng dường đến các đọc giả một cuộc
thi diễn pháp giửa công chúa Tịnh Thí và các vị đại đệ tử của Phật
và các chư Bồ Tát.  Như một
trận thi đấu võ nghệ mà chúng ta thường tấm tắc khen ngợi các bậc
võ sư, một trận thi đấu pháp này khiến cho chúng ta phải thán phục
mà thấu rõ rằng đạo pháp là bao la, Phật pháp là vô tận, nhưng tuyệt
đối bình đẳng.  Chúng ta sẽ
nhận qua đây sự thương yêu chúng sanh của

các vị không có ngằn mé.  Chúng
ta sẽ nhận thấy sự khiêm tốn của các vị, và tinh thần vô lậu, vô
ngã, vô tướng sáng rực qua kinh này. 

Ðọc
giả xin hết sức chú ý: Ðừng vội phán xét việc gì trong kinh này mà
dùng ý thức vọng tưởng của mình.  Phật há đã chẳng dạy:

Nếu
đem cái vọng tâm mà suy nghĩ cảnh giới của Chư Phật, thì các cảnh
giới ấy đều lẩn quẩn trong vòng vọng tưởng của chúng sanh mà thôi.

(Kinh Viên Giác). Do đó, đọc giả phải hiểu: tất cả chư Phật, chư Bồ
Tát, chư Thánh Hiền mổi mổi hành động đều vì lợi ích của chúng
sanh, không hề làm việc vô nghĩa, không hề làm một việc thừa thải
không có giá trị.  Mổi lời nói
đều do trí huệ vô song làm chủ, mổi giây phút nín lặng đều do Ðịnh
vô song làm chủ.  Chân thật diệu
nghĩa vô tự kinh các ngài luôn hằng tụng không ngưng nghĩ một giây
phút nào.  Như lời ngài Lục Tổ
đã có dạy: 
Từ
kiếp này qua kiếp nọ, tay chẳng mở cuốn kinh. 
Nhưng từ ngày đến đêm, không có lúc nào mà chẳng niệm vậy

(Pháp
Bảo Ðàn Kinh).  Và quả thật,
bao nhiêu ích lợi cho người được dự cuộc giảng thuyết ấy khi xưa,
và sẽ bao nhiêu người được lợi ích 
khi được trì tụng kinh này.  Trì
tụng là làm theo lời dạy cho đến lúc thành công đó vậy. 
Vì vậy, chúng ta nên y theo nghĩa kinh mà làm; 
Không nên bám víu vào cảnh vật nào mà rồi đi sái đường vậy. 
Muốn được như thế, chúng ta nên nghiền ngẫm, suy tư, rồi làm
theo lời dạy.  Nếu được thành
công thì ta lấy đó làm chứng vậy.

Kính
thưa các đọc giả, chúng ta không nên làm người đếm châu ngọc cho
kẽ khác mà trong khi mình đang ngồi trên đống trân bảo. 
Chúng ta cần phải ý thức được Phật Ðạo không phải là một
quan điểm xuông, mà là một Ðạo do thực hành mà được thành. 
Có mấy ai chỉ đọc sách nấu ăn không thôi mà được trở thành
một đầu bếp giỏi ?  Có mấy ai
chỉ đọc qua các sách vở mà được trở thành một võ sĩ, kỷ sư, bác
học ?  Họ đều đem những gì
đã được học ra mà thực hành, tập luyện cho đến ngày thành tựu. 
Phật  pháp chỉ cần được
tóm gọn một câu như thế này bởi ngài Lục Tổ: 

Ngã
nhơn chóng dứt, vọng tưởng mau trừ, dứt lời liền thành Phật

” (Kinh
Kim Cang Chư Gia). Thế thì, Ðạo do chúng ta thực hành mà được thành
công;  Ðốn(nhanh) hay tiệm(chậm)
đều do chúng ta cả.  Nếu chuyên
gắng chăm làm thì mổi giây là gần đến, mổi giây là siêu việt một
kiếp sanh tử.  Thế nhưng, nói
thì dể ngay cả con nít cũng nói được, nhưng đến lúc làm thì ông
già bảy mươi cũng chưa làm xong ! 



Còn
chúng ta thì sao ?

Kính mời các vị một bữa
thiền vị đầy ích lợi.  Và dịch
giả xin được sám hối với chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh nếu
như con ngu muội dịch sai ý Thánh nhân. 
Mong các vị cao tăng, Ðại Ðức, các bậc Thiện Trí Thức chỉ bày
sửa chữa những lỗi lầm của con cho quyển kinh này được hoàn chỉnh và
mang lại nhiều lợi ích cho sanh chúng.  May mắn cho con và sanh chúng thay.

( Lưu ý: Phần chử in nghiên
là của dịch giả, thêm vào để trợ giúp cho người 
đọc chưa quen các ẩn ý trong kinh. 
Không phải từ bản chính.)


Dịch
giả:  Cư Sĩ Thiện Quang. 
Ngày 11 tháng 8 năm 2000 (Dương Lịch)




Kinh
Nhạo Thuyết Biện Tài cho Các Nhân Duyên

hay

Kinh
Lối Vào Cửa Ðịnh của Bồ Tát




Trích
dịch từ tập kinh A Treasury of Mahayana Sutra 
được dịch từ tiếng Trung Hoa sang tiếng Anh bởi hội đoàn Phật
Giáo Hoa Kỳ (Garma C. C. Chang Tổng Biên Tập).
 

Dịch
từ Phạn văn sang Trung Hoa bởi Nieh Tsao-chen (Ðại Tạng số 33, Taiso
310, trang 556 – 564).


sĩ Thiện Quang dịch Anh sang Việt.

 

Như
vậy tôi đã được nghe.  Một thời , Ðức Thế Tôn đang cư ngụ trong vườn của
ông Cấp Cô Ðộc, cây của Thái Tử Kỳ Ðà, gần thành Xá Vệ, cùng với
một ngàn vị Ðại Tỳ Kheo.  Ngoại
trừ ông A Nan ( Ananda ) ra, tất cả các 
vị đó  đã đều là bậc
A-La-Hán.  Các vị đã đoạn diệt
tất cả các kiết sử và không còn bị các sự phiền não ràng buộc. 
Các vị đã được an nhiên, tự tại với tất cả mọi cảnh trần. 
Các việc các ngài đã làm xong, trút bỏ đi cái gánh nặng của
luân hồi,  thâu đạt sự ích lợi
cho mình, cắt diệt các mối giềng sanh tử.  Dùng chánh tri kiến, các ngài đạt giải thoát, không
còn một tâm niệm luyến ái và si mê. 
Tâm trí của các ngài được tự tại vô ngại, như các con voi
chúa lớn được điều phục theo ý nguyện. 
Các ngài đã vượt qua đến bờ bên kia, và đã bước trên Tám
Thánh Ðạo giải thoát.

Trong hàng đại chúng lại có
mười hai ngàn Ðại Bồ Tát trang nghiêm với các công đức. 
Oai đức của họ đã được truyền xa đến hết cả mọi nơi. 
Các ngài đã ở trong bậc Bất Thối Chuyển, và sẽ thành Phật
trong những kiếp gần đây.  Ðó là các vị : Ðại Bồ Tát Ngọc Thủ, Ðại Bồ Tát
Bảo Công Ðức, Ðại Bồ Tát Trang Nghiêm Trí Tuệ, Ðại Bồ Tát Như Ý,
Ðại Bồ Tát Quán Thế Âm, Ðại Bồ Tát Pháp Vương Tử Ðại Trí Văn
Thù Sư Lợi, Ðại Bồ Tát Pháp Vương Tử Diệu Âm, Ðại Bồ Tát Pháp
Vương Tử Bất Khả Tư Nghị Giải Thoát Ðộ, Ðại Bồ Tát Pháp Vương
Tử Vô Chướng Ngại Ðịnh Tự Tại Vô Biên Pháp, Ðại Bồ Tát Di Lặc,
Ðại Bồ Tát Hoan Hỷ Thí, Ðại Bồ Tát Bất Hư Vọng Kiến, Ðại Bồ Tát
Viễn Ly Ác Ðạo, Ðại Bồ Tát Bất Hư Vọng Hành, Ðại Bồ Tát Ly Cấu
Quang, Ðại Bồ Tát Viễn Ly Ấm Chướng, Ðại Bồ Tát Trang Nghiêm Biện
Tài, Ðại Bồ Tát Nhất Thiết Trí Bảo Công Ðức, Ðại Bồ Tát Kim Hoa
Thanh Ðức, và Ðại Bồ Tát Vô Ngại Tưởng.

Thệ nguyện vì lợi ích
chúng sanh
:

Vào một buổi sáng nọ, tám vị
Ðại Thanh Văn và tám vị Ðại Bồ Tát, mặc áo ca-sa, mang bình bát, vào
thành Xá Vệ xin ăn.  Các vị ấy
là Ðại Ðức Xá Lợi Phất, Ðại Ðức Mục Kiền Liên, Ðại Ðức Ma-Ha
Ca-Diếp, Ðại Ðức Tu Bồ Ðề, Ðại Ðức Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử,
Ðại Ðức Li Bà Da, Ðại Ðức A Na Luật, Ðại Ðức Nan Ðà, Pháp Vương
Tử Ðại Trí Văn Thù Sư Lợi, Bồ Tát Bất Hư Vọng Kiến, Bồ Tát Bảo
Tướng, Bồ Tát Viễn Ly Ác Ðạo, Bồ Tát Viễn Ly Chướng, Bồ Tát Quán
Thế Âm, Bồ Tát Trang Nghiêm Biện Tài, Bồ Tát Bất Hư Vọng Hành.  Trên đường đi đến thành Xá Vệ, các vị suy nghĩ,
rồi bàn với nhau cách nào có thể khiến cho chúng sanh thành thục đạo
mầu, mau thành chánh đạo, và được bao nhiêu lợi ích lớn khi gặp và
bố thí cho các ngài.



Ðại
Ðức Xá Lợi Phất nói: “Khi tôi đi đến thành Xá Vệ để khất thực,
tôi sẽ nhập vào chánh định tam muội, làm cho tất cả chúng sanh trong
thành được nghe bốn Diệu Ðế : Khổ, Tập, Diệt, Ðạo.”

Ðại Ðức Mục Kiền Liên nói:
“Khi tôi đi đến thành Xá Vệ để khất thực, tôi sẽ nhập chánh
định tam muội, khiến cho tất cả các chúng sanh trong thành thoát khỏi
ảnh hưởng của tà ma, ác quỷ, và sẽ được chánh tâm, an ổn, khoái
lạc. ”

Ðại Ðức Ma-Ha Ca Diếp nói:
“Khi tôi đi đến thành Xá Vệ để khất thực, tôi sẽ nhập chánh
định tam muội khiến cho chúng sanh nào bố thí cho tôi sẽ được vô tận
phước đức, duyên lành mãi cho đến khi họ nhập Niết Bàn. ”

Ðại Ðức Tu Bồ Ðề nói:
” Khi tôi đi đến thành Xá Vệ để khất thực, tôi sẽ nhập chánh
định tam muội khiến cho tất cả các chúng sanh nhìn thấy được tôi sẽ
được sanh các cõi thiên hoặc cõi người, được những hoan hỷ hạnh
phúc và không còn đau khổ nữa. ”

Ðại
Ðức Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử nói: ” Khi tôi đi đến thành Xá Vệ
để khất thực, tôi sẽ nhập chánh định tam muội, khiến cho chúng sanh
đang đi sái với đạo, đang tu trong ngoại đạo bà-la-môn như các người
lõa hình, sẽ được thấy chánh đạo và được chánh tri kiến. ”

Ðại Ðức Li Bà Da nói:
” Khi tôi đi đến thành Xá Vệ để khất thực, tôi sẽ nhập chánh
định tam muội  khiến cho các chúng
sanh trong thành được hoan hỷ, lìa bỏ các sự tranh đấu, hý luận vô
nghĩa. ”

Ðại Ðức A Na Luật nói:
” Khi tôi đi đến thành Xá Vệ để khất thực, tôi sẽ nhập chánh
định tam muội khiến cho tất cả các chúng sanh trong thành được thấu
rõ các nghiệp quả đã gieo trồng từ các kiếp trước. ”

Ðại Ðức Nan-Ðà nói:
” Khi
tôi đi đến thành Xá Vệ để khất thực, tôi sẽ nhập chánh định tam
muội khiến cho tất cả các chúng sanh trong thành được nhớ lại các
chánh pháp mà họ đã được học. ”


Ngài Pháp Vương Tử Ðại Trí
Văn Thù Sư Lợi nói:  ” Tôi sẽ
làm cho các cửa, cửa sổ, bức tường, các vật trang trí, cây cối, nhành
lá, hoa quả, quần áo, chuỗi ngọc trong thành Xá Vệ thuyết pháp Không,
Vô Tướng, Vô Cầu, Vô Ngã Sở, Bất Không, Vô Hý Luận, Vô Ngã. ”


Bồ Tát Bất Hư Vọng Kiến nói:
” Tôi sẽ làm cho mọi vật nhìn thấy bởi các chúng sanh mà đang sắp
gần bờ giải thoát ở trong thành Xá Vệ trở thành ảnh Phật Ðà. 
Từ đó, họ sẽ quyết định được giải thoát mà không còn bị
thối chuyển nữa.

Bồ Tát Bảo Tướng nói:
” Tôi
sẽ ban bố bảy báu trân bảo tràn đầy trong tất cả các nhà của sanh
chúng trong thành Xá Vệ mà không phân biệt giàu, nghèo, đẳng cấp. ”

Bồ Tát Viễn Ly Ác Ðạo nói:
” Tôi sẽ làm cho các chúng sanh trong thành Xá Vệ đáng lẽ bị đọa
vào các đường ác sau khi chết, nay sẽ bị đau khổ một ít thôi ngay
trong cuộc sống này, và sẽ được giải thoát mau chóng. 

Bồ Tát Viễn Ly Ấm Chướng nói: 
” Tôi sẽ làm cho chúng sanh trong thành Xá Vệ gạt bỏ được năm
ấm chướng hoàn toàn. ”


Bồ Tát Quán Thế Âm nói:
” Tôi sẽ khiến cho các tội nhân trong thành Xá Vệ sớm được tự do,
những ai sắp bị giết sẽ được tha, những ai đang khiếp hãi sẽ không
còn khiếp sợ nữa và còn được sự vô úy. ”

Bồ Tát Trang Nghiêm Biện Tài
nói: ” Tôi sẽ làm cho các sanh chúng trong thành Xá Vệ khi gặp được
tôi thì sẽ được các sự biện tài, xuất khẩu thành thi, khi hỏi đáp
đạo pháp. ”

Bồ Tát Bất Hư Vọng Hành nói:
” Tôi sẽ làm cho các sanh chúng trong thành Xá Vệ khi gặp tôi sẽ lìa
bỏ các độc kiến, và đạt được giải thoát giác ngộ tối thắng, bất
thối chuyển. ”

Xứng thuyết các tư niệm của
các vị như vậy đã xong thì các vị vừa đến cổng thành Xá Vệ.

Tịnh Thí bổn truyện
:


Cũng trong lúc ấy, con gái của
vua Ba Tư Nặc (Prasenajit) là công chúa Tịnh Thí 
đang cư ngụ tại thành Xá Vệ. 
Công chúa Tịnh Thí có nhan sắc rất mỹ miều và đoan trang mặc
dù mới có tám tuổi.  Ngày hôm
đó, cũng là ngày thứ tám tháng hai, lúc chòm sao Pusya vừa mọc. 
Cầm bình nước trên tay, công chúa Tịnh Thí cùng đi ra ngoài
thành Xá Vệ với năm trăm tu sĩ phạm chí để tắm rửa tượng tháp của
thiên thần.  Khi năm trăm người
phạm chí nhìn thấy các tăng đang đứng trước cửa thành, họ cùng
nhau bàn luận và cho đó là điềm gở. 
Ông phạm chí già nhất, Bạt Ma (Brahma) đã được một trăm hai
mươi tuổi, bạch cùng công chúa Tịnh Thí: 
” Thưa công chúa, các tăng kia đang đứng ở ngoài cổng thành
Xá Vệ.  Chúng tôi cho đó là một
điềm xấu, nên xin công chúa hãy cùng chúng tôi quay lại vào trong thành
mà tránh gặp mấy ông này. 
sao ? Nếu chúng ta để họ nhìn thấy chúng ta, thì sự hành lễ này sẽ
bị mất thiên liêng đi. ”


Nghe như thế, công chúa Tịnh
Thí nói kệ:

Tất cả những vị này đều
tuyệt hết ái dục

Và thật là xứng đáng được
khen ngợi nhất

Họ có thể rửa sạch mọi ác
ý, ác hạnh

Cho hầu như gần hết tất cả
các chúng sanh.

Những vị này rất thanh tịnh
và trang nghiêm

Bởi vì họ đã hiểu rõ tới
tận chỗ chơn về Tứ Diệu Ðế

Thế nhưng những người đi
sai đường thì thật là cấu bẩn

Vì họ đang bị bao phủ bởi vọng
tưởng và vô minh.

Phước đức vô lượng sẽ
được tập gom

Cho những người cúng dường
Ðức Thế Tôn

Ðấng cao quý nhất giữa Thiên
chúng và nhân loại

Ngài là ruộng phước lớn

Và những gì gieo trồng trong
ruộng phước này


Thì kết quả vô lượng, vô tận,
tha hồ mà gặt hái
       

Trong ba cõi này

Ðức Phật, Ðấng Thanh Tịnh,
Ðấng Viên Mãn về giới hạnh

(Ngài đã) vượt lên
không bị chướng ngại trong cuộc sống khổ lụy này

Ngài trụ trong thế gian này

Như là một thầy đại lương
y giỏi

(Ngài) chữa lành và cứu
độ các chúng sanh bệnh khổ.

Trong thế giới này

Phật là Ðấng Vô Thượng

Ngài là vua của tất cả các
Pháp

Và những vị này đây, đều
là trang Phật Tử cả

Và trong đó còn có những vị
A-La-Hán

Và lại còn có các vị Ðại
Bồ Tát nữa kia

Tại sao người trí giả lại
muốn xa lìa các vị ấy ?

Trong khi đó lại tỏ rằng họ
đã thực hành bao hạnh lành, việc lành cho tất cả ?

Và họ đáng được tôn trọng,
tán thán bởi tất cả các chúng sanh trong thế gian này ?

Họ đã từ lâu thực hành bao
nhiêu hạnh lành, bố thí

Này các phạm chí, các ông
phải tôn kính các vị này

Vì (nếu các ông) làm
thế, (thì) được nhiều điều tốt đẹp


Chúng ta hãy cùng tán thán,
khen ngợi các vị này


Vì họ dùng công đức tướng
hảo để trang nghiêm thân mình

Là bậc tịnh tâm, huệ trí, nên
họ là ruộng phước cực tốt cho chúng ta

Này các phạm chí, hãy tin lời
ta

Thì các ông sẽ được hoan hỷ
và không còn phải bị âu lo, phiền não nữa.

Dịch giả tán kệ :

Này các vị hôm trầm
si ám

Biết làm sao mà dám
khi lờn

Dựa mắt trần mà phán
thiệt chơn

Nào có biết Thánh Tăng
tuyệt ái

Thật đáng cho sủng bái
trên đời

Có biết rằng đại chúng
khắp nơi

Ðược độ thoát khỏi
nơi ác ngục

Hạnh Ðầu Ðà, thanh
tao, thoát tục

Do tập rành Tứ Ðế
Diệu Chơn

Dẫu mới vào, cũng bậc
thượng nhơn

Hơn các kẻ cội ngươn
không biết

Ta lấy đó thiệt là
thương tiếc

Việc lầm đường, lạc
ngả, đau thương

Do thấy lầm, hiểu quấy,
nhiễu nhương

Nên đeo áo nộ si cấu
bẩn

Ta đang nói những lời
chân thật

Thật là may nếu đó
hiểu lòng

Bất khả nghì lộc phước
phủ dong

Cho kẻ cúng Thế Tôn
Ðức Phật

Lời ta nói không là
sai trật

Thật phước điền sáu
cõi chúng ta

Ruộng phước này rộng
ngát bao la

Gieo giống tốt, tột
không thể kể

Các ngươi chớ sanh lòng
khi dể

Thế Tôn ta chẳng thể
nghĩ bàn

Ðứng đầu hàng ba cõi,
Thượng Nhơn

Chơn thoát tục, giới
kia sẵn đủ

Các ngươi mới thật
là mê ngủ

Rủ ta xa các đấng trượng
phu

Hãy nhìn kia giữa
đám bùn lu

Ðang nở đẹp bao vì
sen trắng

Ðấng Thế Tôn thật là
thù thắng

Chẳng mỏi mòn vào chổ
tử sanh

Thiệt mẹ lành, thương
hết chúng sanh

Tùy bịnh khổ lường
canh cho thuốc

Còn ai nữa, Thế Tôn
ưu tột

Là vua hiền của pháp
tịnh thanh

Ai chơn thành mà học
cho nhanh

Là Phật Tử, quyết thành
La Hán

Có các vị chẳng lòng
ngao ngán

Quán chúng sanh như
thể bạn lành

Bồ Tát Hạnh nguyện
thành như Phật

Ông phải tin, ta đây
chơn thật

Chẳng mật đường, chỉ
trật chúng sanh

Có lý nào mà tránh
Tịnh, Thanh ?

Kìa oai đức họ bao
trùm khắp !


                       

Ví như ông được đi
cùng khắp

Mới rõ là các Thánh
Tăng ta

Thật hạnh lành muôn
kiếp bao la

Mà chuyên Giới, Ðịnh
lành, chân Thí


Nếu các ông thiệt mà
có trí

Thì hãy cùng hỏi
chuyện cùng nhau

Kết duyên lành có lợi
về sau

Nên lễ kỉnh, lòng
sanh ưu ái


                       

Thánh Tăng ta, đức
như non Thái

Phải cận gần mà hỏi
cho mau

Học đạo mầu phải rõ
vàng thau

Sau mới được mà mau
thành Phật.

           


Ông phạm chí 
già đó nói kệ đáp lại :

Ðừng suy nghĩ vớ vẩn, ngu dại

Hãy tránh xa mấy người này
khi hành lễ cúng tế

Những ai đi tìm hoan hỷ, hạnh
phúc

Thì không bao giờ được gần
những ai

Cạo đầu trọc, mặc áo ca sa
hoại sắc

Cha mẹ cô sẽ không bằng lòng
về chuyện này

Và chính chúng tôi cũng lấy
làm nhục nhã giùm cho cô

Nếu như cô định bố thí cho
họ

Ðây không phải là điềm hên
cho chúng ta

Xin đừng tôn kính mấy tăng
sĩ này

Công chúa Tịnh Thí đáp kệ
rằng:

Khi tôi bị đọa vào cảnh giới
khổ đau, địa ngục

Cha mẹ tôi, kẻ cận hầu, của
cải, giàu sang, ngọc ngà, châu báu

Hay sự can đảm, sức khoẻ của
tôi

Cũng không thế nào mà có thể
cứu được tôi ra

Ngoại trừ các thiện nhân với
công đức vô lượng đó

Ai quanh đây có thể cứu rỗi
được tôi

Ðể xưng tán và làm rạng
danh Phật, Pháp, Tăng

Tôi sẵn sàng hy sinh, dâng cúng
tánh mạng, thân thể, tay chân

Không còn một lối đi, một
con đường nào khác

Là quy mạng và tán thán Tam
Bảo vậy

Dịch giả tán
kệ
:

Ông không thấy bao người
thanh lịch

Có uy quyền, giàu có,
hiển vinh

Có ai mà thoát khỏi
tử sinh

Cho nên đó làm tôi
kinh hãi

Lúc tôi chết, rớt vào
khổ ải

Ai thương tôi, tế
độ bao trùm

Có thể dùng tài của,
gấm nhung

Hay sức khoẻ, đảm
đương, uy vũ ?

Ai thương tôi bằng
đương bi mẫu

Nhưng làm sao thế
được khổ nan

Ngoài ai đây, các
đấng phước giàng

Trang Phật tử, Pháp Vương
cứu độ.

Nhờ Tam Bảo ân từ
gia hộ

Ðộ đưa cho thoát khổ,
hướng lành

Tịch Tịnh hành, năng
độ chúng sanh

Tôi tôn kính, nguyện
dâng tủy não

Nguyện một lòng quy y
Tam Bảo

Tán đạo lành, rộng
độ quần sanh.

Ông trưởng lão phạm chí hỏi
rằng : ” Công chúa chưa từng bao giờ nhìn thấy Phật hoặc các tăng
chúng, và cũng chưa bao giờ được từng nghe pháp. 
Vậy làm sao mà công chúa lại có lòng tin sâu sắc như thế
được với họ ? ”

Công chúa Tịnh Thí đáp lời
: ” Bảy ngày sau khi tôi chào đời, đương lúc nằm trên chiếc giường
với chân làm bằng vàng trong cung điện lộng lẫy của cha mẹ tôi, tôi
đã gặp năm trăm vị thiên thần đang trụ tại hư không, tán dương
không ngớt công đức của chư Phật, của Pháp, và của chư Tăng. 
Tôi nghe không sót một lời nào của họ. 
Trong đó có một Thiên Tử chưa từng được thấy Phật, chưa từng
được thấy chúng Tăng, và chưa từng được nghe pháp sâu yếu đó. 
Ngài bèn hỏi rằng : Phật thì dáng điệu tướng mạo ra làm sao
? Cảm nhận đó cũng là câu hỏi của ta, và các chư Thiên khác cũng
muốn ban sự hoan hỷ cho vị Thiên Tử nọ, họ đồng trả lời bằng kệ rằng:

Lông màu tía, sạch, bóng, xoắn
về phía hữu

Mặt sáng như trăng rằm, màu
sen trăm cánh

Sợi tóc trắng ở giữa chặng
mày

Thì xoắn về phía hữu, ngắm
nhìn không chán

Cặp chân mày cong phủ vòng mắt

Như những con ong đen bao phủ
trên đóa hoa sen xanh

Cằm của ngài như con sư tử
chúa

Mắt chớp hiền từ, oai vệ như
trâu chúa

Môi thật đẹp và có màu như
trái bí đỏ tươi

Răng của ngài thì trắng, khít,
bằng, đều

Tựa như đàn thiên nga đang
bay ngang trời

Lưỡi rộng dài, không ai có
được

Và lại còn có thể phủ che
được cả mặt của mình

Tiếng phạm âm thanh tao, rõ ràng

Ðem hoan hỷ cho tất cả ai
được nghe thấy

Như tiếng công hát

Như tiếng thiên nga

Như tiếng sáo trời

Như chuông nhạc của Càn-thát-bà

Như tiếng chim Ca-lăng-tần-già

Như tiếng chim Oanh Vũ, Cộng-Mệnh

Êm dịu như các tiếng nhạc
trổi

Của các loại nhạc cụ, êm dịu
nhất thế giới

Ngài thuyết pháp như sư tử
rống

Phá tan tất cả biện luận

Nhổ tan các giống ngu si

Lời thành thật phá tan tăm tối

Ngài ngồi giữa các chúng

Mà xóa các mối nghi: Giải
đáp rõ ràng

Mà các lời giảng thì không
lỗi, hoàn toàn, êm ái, dịu dàng

Làm cho thính giả cội Tín
đâm sâu

Làm cho thính giả xa lìa hai
niệm: Có, Không

Và dắt họ đi con đường
trung đạo

Ngài thuyết pháp không hề mệt
mỏi

Tiếng phạm âm trong sáng nhẹ
nhàng

Khiến thính giả nghe hoài, không
nhàm

Từ một tiếng phạm âm

Sanh chúng hiểu đạt tùy theo
trình độ

Như mưa lành, thấm nhuần tất
cả

Giọng pháp âm diệu vi, đầy
trí tuệ


Như vòng hoa báu lập thành bởi
các hoa vi dịu nhất
         

Cổ đầy, tròn trịa

Cánh tay dài và thẳng

Bàn tay đầy đặn, phẳng bằng,
in hình kim luân

Ngón tay dài, móng màu sắc
đồng đỏ

Thân ngài rắn chắc, vững vàng,
tròn đầy

Hông thon như sư tử chúa

Rốn sâu, tròn

Nam căn tầm kín

Như ngọn núi báu

Thân ngài tự tại

Như voi chúa, như rồng chúa

Những lổ chân lông mọc thẳng,
rồi xoắn về phía hữu

Xương chậu bằng nhau

Vế như nai chúa

Cổ chân mềm, tròn, xương nối
chắc chắn

Gót chân phẳng đầy, in dấu
vạn xa luân

Này các phạm chí, các chư
thiên ngự trên không trung ca ngợi không ngớt lời về Như Lai. 
Họ lại còn tán thán như thế này: 
Ðấng Như Lai, Ứng Cúng, Thế Tôn đưa độ chúng sanh đến bờ
giải thoát.  Ngài bảo vệ chúng
sanh với lòng Ðại Từ, Ðại Bi.  Ngài
như là vua của các vị Ðại Lương Y. 
Ngài đã thoát khỏi các sự ràng buộc và không còn bị các ma
não, luyến ái, sân hận ngự trị.  Như
hoa sen tỏa hương thơm ngát trong đám ao bùn, ngài đã thật sự giải
thoát, và được gọi là đấng chơn vô lậu. 
Tất cả những gì chúng ta xưng tán ra đây chỉ là một hạt cát
trong giòng sông công đức bao la bất khả tư nghì của chư Phật, Thế
Tôn.


Này các phạm chí, bảy ngày
sau khi ta được sanh ra và được nghe công đức của Ðấng Như Lai, ta
chưa từng ngủ, ta chưa từng nghe và cảm nhận cám dục của luyến ái,
sân hận, hay không vừa lòng về bất cứ việc gì. 
Từ lúc đó, ta không hề sanh lòng luyến ái mẹ cha, anh chị, người
thân, tài lộc, châu báu, vòng xuyến, 
quần áo, thành phố, nhà cửa,  vườn
ruộng, lâu đài, hay ngay cả chính thân của ta đây và kể cả mạng sống
của ta.  Ta chỉ có một niệm duy
nhất đó là chỉ một lòng niệm tưởng đến Như Lai. 
Ta đến bất cứ nơi nào mà các Ðấng Như Lai đang giảng pháp mà
lắng nghe chăm chú chuyên cần.  Ta
nhớ và thấm nhuần lời giảng dạy của các ngài không thiếu sót một câu,
một lời. 

Này các phạm chí, ta luôn thấy
Như Lai, Ðấng Thiện Thệ ngày và đêm.  Ta không bao giờ mệt mỏi suy nghĩ về Như Lai, không
bao giờ nhàm chán nghe về giáo pháp, và không bao giờ thối chí, nản
lòng  mà không cúng dường các
Tăng chúng. ”

Khi công chúa Tịnh Thí tán
thán Ðức Phật như vậy, diệu Pháp như vậy, Tăng già như vậy, thì tất
cả năm trăm vị phạm chí, kể cả ông trưởng lão phạm chí đều phát
tâm vô thượng bồ đề.



Công chúa Tịnh Thí bước xuống
cỗ xe, rồi đi về phía chư vị Bồ Tát và các vị Ðại Ðức. 
Khi đến nơi, Tịnh Thí  đảnh
lể dưới chân các vị, đầu chạm đất. 
Sau khi đảnh lể xong, công chúa Tịnh Thí đến trước ngài Xá-Lợi-Phất,
với tất cả lòng tôn kính mà thưa rằng:

“Thưa Ðại Ðức, tôi chỉ
là một đứa con gái, trí tuệ cạn hẹp, nghiệp chướng sâu dầy. 
Tôi lại mang tật giãi đãi, thả lõng giới luật, ham thích vật
sắc, và bị bao phủ bởi tư tưởng tà quấy. 
Cúi xin Ðại Ðức Xá-Lợi-Phất từ bi, thương xót, thí pháp lành
cho tôi, để cho tôi sau khi được nghe, thì tôi sẽ được phước đức
trong những đêm dài sanh tử, và được bình an và hoan hỷ trong cõi
đời. ”

Vấn Ðáp với vua cha:


Trong lúc công chúa Tịnh Thí
đang kính bạch với Ðại Ðức Xá-Lợi-Phất như vậy, thì vua Ba-Tư-Nặc
vừa đi tới.  Nghe thuật lại những
lời Tịnh Thí nói cho các vị phạm chí xong, 
nhà vua liền hỏi:  ” Công
chúa Tịnh Thí, con ta, con không thiếu những sự sung sướng, thế tại
sao con lại nhìn u buồn ?   Tại
sao con không ngủ nghĩ hoặc hưởng vui những lạc thú trên đời ? ”

Vua Ba-Tư-Nặc kệ hỏi con mình
:

Con nhìn xinh đẹp như một vị
thiên nữ

Sau khi tắm, con xức dầu thơm

Rồi mặc y phục ướp hương
thơm tuyệt hảo

Con còn có vòng vàng, và các
thứ ngọc báu trang sức

Thế tại sao con lại buồn, con
không ngủ được ?

Quê hương con thì giàu mạnh,
của cải đầy ắp

Còn quyền lực, oai danh của
cha mẹ thì tuyệt đối vô song

Thì chuyện gì làm khổ não
cho con mà con không ngủ được ?

Con được họ hàng thương mến

Thần dân ái mộ

Còn cha là một vị vua oai hùng
lẩy lừng

Thì tại sao con lại buồn cho
được ?


Con đã nhìn thấy chuyện buồn
gì, nghe cảnh não nào

Mà làm cho con ưu tư phiền
muộn ?

Con của ta mong muốn cái gì ?

Hãy nói cho ta biết đi con .

Việt dịch:

Này công chúa, con ta,
Tịnh Thí

Giống bồng lai, tiên
nữ trên trời

Nào ai sánh kịp dưới
đời

Trăm phần đẹp nhất,
mọi thời, các nơi

Ðây áo đẹp dầu thơm
con xức

Nọ ngọc, trâm, vòng,
xuyến, lụa là

Con ta có biết chăng

Con là bật nhất, không
là giả danh

Thế cha hỏi, thật rành
con đáp

Cớ làm sao buồn héo
anh đào ?

Cớ sao ? Vì lý do nào
?

Mà con không ngủ, ủ
buồn nét hương

Ớ con, nhìn thấy quê
hương

Ðụn kho đầy ắp, nước
giàu, sướng vui

Khắp nơi triều cống
chẳng nguôi

Mẹ cha bậc nhất, xa xôi
kỉnh lời

Quyền uy tuyệt đối mọi
thời

Nhưng con không ngủ,
ta thời xót thay

Con nay biết, thần dân,
trăm họ

Lọ chẳng ai yêu kính
đâu nào ?

Hoàng thân, quốc thích
đầy trào

Không ai lại chẳng thương
vào nhất con

Cha đây như núi thái
non

Uy danh vang khắp thì
con phải mừng

Con nên ca múa, hát mừng

Nhưng sao con lại não
nùng thế con ?

Này Tịnh Thí, thật,
con nên đáp

Cảnh buồn chi mà não
tâm con

Nói cho cha rõ lòng
son

Ý con ưa thích, vì
con, cha chìu.






                     


Công chúa Tịnh Thí đáp 
kệ rằng :

Sống trong cuộc sống tại gia
tầm thường

Thưa Hoàng Thượng, ngài có
cảm thấy rằng

Các ấm, tứ đại, sáu căn

Tất cả đều mỏng manh, yếu
ớt

Ðời sống phàm trần giống như
trò ảo thuật

Còn số mạng theo thời gian trôi
qua không một lúc ngừng nghĩ.

Làm sao ai có thể ngủ ngon
sau khi đã uống thuốc độc ?

Làm sao ai có thể vui chơi
khi biết mình đang sắp chết ?

Làm sao có thể hy vọng được
sống trong khi đang rớt xuống vực sâu ?

Cũng như vậy, đời sống
trong cõi sắc, trong thế giới này.

Như người đang sống giữa hầm
trăn ổ rắn

Làm sau họ có thể ham ngủ, mê
dục ?

Thì tứ đại của con người cũng
như là bốn con rắn độc

Làm sao ta có thể mê dục lạc
từ bốn con rắn độc đó cho được ?

Trong lúc bị bao vây bởi kẻ
thù, đói khát

Làm sao ta có thể có hạnh phúc
cho được ?

Còn như cha, đang bị các nước
thù nghịch vây quanh

Làm sao ngài có thể ngồi an
nhiên như thế ?

Kể từ lúc con được nhìn thấy
Ðấng Thế Tôn

Con quyết tâm sẽ được thành
Phật

Thưa Hoàng Thượng, con chưa
bao giờ nghe hoặc thấy

Một vị Bồ Tát nào ngưng nghĩ
lòng quyết tâm dù chỉ một giây phút.

Dịch giả tán kệ:

Phụ vương sáng trí,
lịch thanh

Con nay xin bạch cùng
ông đôi lời

Sống trong ba cõi vậy
thời

Cái thân tứ đại rã
rời chẳng lâu

Sáu căn, năm ấm phủ
bâu

Trí nhân lấy đó, lo
âu kỷ càng

Tựa nay giấc mộng kê
vàng

Tên bay cửa sổ, chớp
loè, thật đâu

Ðời người như chiếc
bóng câu

Thoáng qua, bay mất, nào
đâu nghĩ ngừng

Cha ắt đoán con hằng
suy nghĩ

Ðể làm sao thoát kiếp
bọt bào

Sao con yên nghĩ
được nào ?

Ðộc kia, tựa uống,
đã vào trong thân

Làm sao vui dựa cái
thân

Khi mình sắp chết, thịt
gân rã rời

Làm sao hy vọng nhất
thời

Vực sâu đang rớt, sống
thời mấy giây

Bạch ông, cuộc sống
ta đây

Sớm chiều thế ấy, dại
ngây mến vào.

Ta đang sống giữa ba
đào

Hầm trăn, ổ rắn, vây
rào tứ tung

Ðủ đầy hiểm độc
khốn hung

Làm sao mà được
thung dung chốn nào?

Thân ta tứ đại hợp
vào

Bốn con rắn độc, lộn
nhào tứ tung

Làm sao người trí buông
lung

Mong tìm hạnh phúc từ
thân đó vào ?

Quanh ta, thù, ép ngặt
rào

Ðói sanh, khát dấy,
thể nào chẳng lo ?

Phụ vương, ngài ắt
đã lo

Nước quanh dòm nghé,
lom le, chẳng lành

Cha đâu có thể vui
đành

Rào vây ân oán, giật
giành các nơi

Làm sao ta thể vui chơi

Lưỡi dao số kiếp chặt
rơi lúc nào ?

Con nay quyết sẽ thành
như Phật

Bậc Ðại Hùng, Ðại
Trí, Chánh Trung

Bậc Thư Hùng, không
phút buông lung

Ðem tâm trí phá cùm
sanh tử

Cha phải biết là : Chơn
Phật Tử

Xứ Phật kia, thanh tịnh
nhiếp vào

Vượt hơn ba cõi anh
hào

Chưa hề sái nguyện,
chẳng hề nung nao

Từ đây ức kiếp về
sau

Ðộ bao sanh chúng mà
không nao lòng



                  



Thỉnh Vấn chư Tăng Ðại
Ðức
:

Công chúa Tịnh Thí cung thỉnh
Ðại Ðức Xá Lợi Phất : ” Kính thưa Ðại Ðức, tôi muốn thỉnh cầu
ngài một câu hỏi.  Cúi xin ngài
từ bi thương xót mà trả lời cho tôi được rõ. 
Như Lai đã nói rằng ngài là bật trí tuệ bậc nhất. 
Vậy trí tuệ đó là do hữu duyên mà được thành, hay không do
duyên (vô duyên) mà thành ?  Nếu
do hữu duyên mà thành, thì nó là huyễn hoặc, giả dối, không chơn.  Còn nếu như do vô duyên mà thành, thì nó không hề
sanh, như Pháp không sanh thì không có xuất xứ. 
Vì Pháp không có xuất xứ, do đó trí tuệ của Ðại Ðức không
hề thực có. ”

Ðại Ðức Xá Lợi Phất lặng
im không đáp.

Ðại Ðức Mục Kiền Liên hỏi
Ðại Ðức Xá Lợi Phất : ” Này Ðại Ðức, tại sao ngài không trả lời
câu hỏi của Tịnh Thí ? ”

Ðại Ðức Xá Lợi Phất đáp
lời Ðại Ðức Mục Kiền Liên: “Nữ thí chủ này không có hỏi về Pháp
Duyên Khởi.  Nữ thí chủ này hỏi
về Ðệ Nhất Nghĩa Ðế.  Ðệ Nhất
Nghĩa Ðế thì lìa ngôn từ, nói năng, cho nên ta không thể dùng lời
để trả lời đặng. ”

Công chúa Tịnh Thí cung thỉnh
Ðại Ðức Mục Kiền Liên : ” Dạ thưa Ðại Ðức, Ðức Thế Tôn có dạy
rằng ngài là bậc thần thông đệ nhất. 
Vậy khi ngài đang biến hóa thần thông, tâm ngài tưởng quán về
chúng sanh, hay tưởng quán về đạo pháp ? 
Nếu quán tưởng chúng sanh, thì thần thông đó không thể là chơn,
vì chúng sanh muôn vật thảy không chơn. 
Còn nếu quán tưởng đạo pháp, ( thì ngài đã ) phải rõ
rằng Chơn Như Pháp Tánh tịch tịnh như như, không sanh không diệt. 
Vì không sanh không diệt, tất cả pháp chơn như đều không thể
đặng, kể cả pháp thần thông của ngài. 
Vì không thể đặng, pháp lìa sự dị, biệt, chấp trước. ”

Ðại Ðức Mục Kiền Liên lặng
im không đáp.

Ðại Ðức Ma-Ha Ca Diếp hỏi
Ðại Ðức Mục Kiền Liên: “Này Ðại Ðức, tại sao ngài không trả lời
câu hỏi của Tịnh Thí ? ”

Ðại Ðức Mục Kiền Liên đáp
lời : “Câu hỏi của nữ thí chủ này không dựa vào sự phân biệt,
đồng dị của thần thông, nhưng dựa trên Viên Giác của Như Lai. 
Viên Giác của Như Lai thì lìa hành, dị biệt, tiên kiến. 
Vì thế, ta không thể dùng lời để trả lời đặng. ”

Công chúa Tịnh Thí cung thỉnh
Ðại Ðức Ma-Ha Ca Diếp: “Dạ thưa Ðại Ðức, Ðức Thế Tôn có dạy
rằng ngài là bậc Khổ Hạnh Ðầu Ðà bật nhất. 
Thưa Ðại Ðức, sau khi ( ngài đã 
) đạt Tám Thánh Ðạo Phần, mà khi ngài nhận của tín thí
đàn na, hoặc giả như trong một chốc nghĩ muốn nhận, vì lòng thương
xót chúng sanh.  Ngài muốn đền ơn của họ như thế nào ?  Ngài định dùng thân mà trả, hay ngài định dùng tâm
ý mà trả ơn cho họ ?  Nếu ngài
dự tính dùng thân, thì ( ngài ) không thể làm đặng. 
Vì sao ?  Vì thân bình
đẳng, và không khác gì thảo mộc, tường, gạch, hay đá sỏi.  Còn nếu ngài định dùng tâm ý, thì ngài cũng không
làm như thế được.  Vì sao ? 
Vì tâm ý chuyển đổi không dừng từng sát na một. 
Ngoại trừ thân tướng và tâm ý, thì chỉ còn lại vô vi. 
Nếu tất cả chỉ là vô vi, thì ai thụ, ai thí để mà ngài có
thể đền ơn sanh chúng ? ”

Ðại Ðức Ma-Ha Ca Diếp lặng
yên không đáp.

Ðại Ðức Tu Bồ Ðề hỏi Ðại
Ðức Ma-Ha Ca Diếp:  “Này Ðại
Ðức, tại sao ngài không trả lời câu hỏi của Tịnh Thí ? 

Ðại Ðức Ma-Ha Ca Diếp đáp
lời : “Nữ thí chủ này hỏi về Chơn Như Pháp Tánh. 
Chơn Như Pháp Tánh không thể dùng lời mà trả lời đặng, vì vậy
ta không đáp. ”

Công chúa Tịnh Thí cung thỉnh
Ðại Ðức Tu Bồ Ðề: “Dạ thưa Ðại Ðức Tu Bồ Ðề, Ðức Thế Tôn
có dạy rằng ngài là bậc vô tranh ( không tranh luận hơn thua )
bật nhất.  Vậy cúi xin ngài nói
rõ về sự thực hành pháp vô tranh đó. 
Pháp vô tranh đó là do bổn nhiên mà có hay là do tự tánh mà
có, và có cái gì gọi là pháp vô tranh ? 
Nếu như ngài dạy rằng đó là do tự tánh, thì ngài đã rõ rằng
chơn tánh thật không sanh, không diệt. 
Hễ cái gì thuộc về không sanh không diệt thì không thể phân
biệt được.  Nếu không thể phân
biệt được, thì đó chính là tự tánh. 
Nếu đó là tự tánh, thì lìa Hành. 
Nếu đã lìa Hành thì cũng lìa tướng nói năng, ngôn từ. 
Nếu đã lìa ngôn từ thì không thể thâu, đắc được. 
Nếu đã không thâu-đắc đặng thì vượt quá ngôn từ luận giải.
(Vậy thì làm sao có ai mà tranh luận để mà ngài được cái vô
tranh ?
). Còn nếu như ngài
dạy rằng do bổn nhiên mà có, thì ngài cũng đã rõ rằng: Hễ có thì
là giả tạo, không chơn.  Hễ cái
nào mà giả dối, không chơn, thì không có Thánh Hiền nào mà hành
theo cả. ”

Ðại Ðức Tu Bồ Ðề lặng yên
không đáp.

Ðại Ðức Phú Lâu Na Ða La
Ni Tử hỏi Ðại Ðức Tu Bồ Ðề:  “Này Ðại Ðức, tại sao ngài không trả lời câu hỏi của Tịnh Thí ?

Ðại Ðức Tu Bồ Ðề đáp: 
“Câu hỏi đó là nguyên nhân chính mà ta không nên trả lời,
vì giữ im lặng là niềm hoan hỷ của ta. 
Lại nữa, câu hỏi của nữ thí chủ này về đạo pháp đã lìa hý
luận vô nghĩa.  Bất cứ câu trả
lời nào của ta đều có thể sái với bản thể của Ðạo. 
Không nói gì cả về Chơn Như Pháp Tánh đó là thực hành môn
hạnh Vô Tranh. ”

Công chúa Tịnh Thí cung thỉnh
Ðại Ðức Phú Lâu Na Ða La Ni Tử: “Dạ thưa Ðại Ðức, Ðức Thế Tôn
có dạy rằng ngài là bậc thuyết pháp vi diệu đệ nhất. 
Khi ngài thuyết pháp, ngài giảng về các giới cảnh hay không giới
cảnh ?  Nếu như ngài thuyết có
cảnh giới tu chứng, thì ngài chẳng khác gì những người thường khác. 
Vì sao ?  Vì chỉ có những
hạng thông thường mới nói về cảnh giới chứng tu. 
Và nếu như ngài thuyết pháp như thế, ngài đâu đã vượt khỏi
cảnh giới phàm phu !  (mà phàm
phu thì làm sao được Thế Tôn khen ngợi là bậc thuyết pháp vi diệu
đệ nhất ?
) Còn nếu như ngài thuyết vô cảnh giới, vô tu chứng,
thì có nghĩa là ngài dạy không có gì hiện hữu. Vậy nếu không có gì
hiện hữu, sao ngài có thể là bậc thuyết pháp bậc nhất được được
kia ? ”

Ðại Ðức Phú Lâu Na Ða La
Ni Tử lặng yên không đáp.

Ðại Ðức Li Bà Da hỏi Ðại
Ðức Phú Lâu Na Ða La Ni Tử : Này Ðại Ðức, tại sao ngài không trả
lời câu hỏi của Tịnh Thí ?

Ðại Ðức Phú Lâu Na Ða La
Ni Tử đáp : “Nữ thí chủ này không hỏi về pháp hữu tướng, nhưng
người lại hỏi về pháp Ðệ Nhất Nghĩa Ðế. 
Ðệ Nhất Nghĩa Ðế thì vượt khỏi nói năng, ngôn từ. 
Vì thế, không có câu trả lời đặng. ”

Công chúa Tịnh Thí cung thỉnh
Ðại Ðức Li Bà Da: “Dạ thưa Ðại Ðức, Ðức Thế Tôn có dạy ngài
là bậc thiền định bậc nhất.  Vậy
khi Ðại Ðức nhập thiền, ngài có dụng tâm hay không ? 
Nếu như ngài có dụng tâm để nhập định, thì định đó là hư
dối vì tâm là không thực, như là huyễn hóa. 
Còn nếu ngài nhập định mà chẳng dụng tâm, thì mọi vật xung
quanh như cỏ, cây, cành, lá, hoa, quả cũng thời có thể nhập định
được vì chúng nó không có tâm. 

Ðại Ðức Li Bà Da lặng yên
không đáp.

Ðại Ðức A-Na-Luật hỏi Ðại
Ðức Li Bà Da : “Này Ðại Ðức, tại sao ngài không trả lời câu hỏi
của Tịnh Thí ? 

Ðại Ðức Li Bà Da trả lời:
“Câu hỏi của nữ thí chủ đây thuộc về thắng địa của Như Lai. 
Thanh Văn, Duyên Giác, Bích Chi Phật không thể trả lời câu hỏi
ấy đặng . ”

Công chúa Tịnh Thí lại nói: 
“Thưa Ðại Ðức, thế thì Chơn Pháp của Phật và Chơn Pháp của
Thanh Văn, Duyên Giác và Bích Chi Phật là khác nhau hay sao ? 
Nếu như pháp đó là khác nhau, thì Vô Vi Chơn Như sẽ bị chẻ
làm đôi thành hai thứ riêng biệt.  Tất
cả các vị Thánh Hiền đều thực hành pháp môn Vô Vi (Vô Tướng, Vô
Cầu, Vô Niệm
).  Vô Vi pháp
môn thì không sanh.  Và nếu như
không sanh, thì không phải là hai (Bất Nhị ). 
Nếu như không phải là hai, thì ấy chính là Chơn Như Tự Tánh,
vì Chơn Như là pháp chẳng hai.  Vì vậy, Ðại Ðức Li Bà Da, làm sao ngài lại có thể
nói như vậy ? ”

Công chúa Tịnh Thí cung thỉnh
Ðại Ðức A-Na-Luật : “Dạ thưa Ðại Ðức A-Na-Luật, Ðức Thế Tôn dạy
rằng ngài có thiên nhãn bậc nhất.  Thưa
Ðại Ðức, khi một vật được nhìn thấy bởi thiên nhãn, có hay là không
có ?  Nếu ngài cho vật đó là
có, thì ngài bị sa vào bên chấp thường kiến. 
Còn nếu như ngài cho vật đó là không, thì ngài lại bị lạc vào
bên đoạn kiến.  Ngoài hai cái
chấp thường và đoạn đó, thì thật sự ngài chẳng nhìn thấy cái gì
cả. ”

Ngài A-Na-Luật lặng im không
đáp.

Ðại Ðức A-Nan-Ðà hỏi Ðại
Ðức A-Na-Luật : “Này Ðại Ðức, tại sao ngài không trả lời câu hỏi
của Tịnh Thí ? ”

Ðại Ðức A-Na-Luật đáp lời:
“Câu hỏi của nữ thí chủ đây đặt ra để phá các ngôn từ đối
đãi phân biệt.  Vì thế, không
thể dùng ngôn từ đối đãi để trả lời đặng. ”

Công chúa Tịnh Thí cung thỉnh
Ðại Ðức A-Nan-Ðà : “Dạ thưa Ðại Ðức, Ðức Thế Tôn có dạy rằng
ngài là bậc đứng đầu trong hàng hữu học. 
Thế thì sự hiểu biết của ngài là chơn thật diệu pháp do hiểu
rành rẽ được tất cả mọi vật đến tận chổ chơn, hay đó chỉ là
danh từ trống rỗng mà thôi ?  Nếu
sự hiểu biết của ngài là chơn thật diệu pháp, thì ngài phải biết rằng
chơn thật diệu pháp vượt quá khỏi sự nói năng. 
Cái gì mà vượt quá khỏi sự nói năng, thì không thể thấu
được bằng nhĩ tánh.  Cái gì
không thấu triệt được bằng nhĩ tánh thì không thể diễn tả được
bằng sự nói năng.  Còn nếu như
sự hiểu biết của ngài được thành tựu bởi các danh từ trống rỗng
thì ngài phải biết Ðức Thế Tôn đã dạy chúng ta: Y theo kinh liểu
nghĩa chứ không y theo kinh liểu chử ( Theo pháp ý chứ không theo chử 
).  Vì vậy, kính bạch
Ðại Ðức, ngài không là bậc hữu học, và cũng không hiểu được
Ðệ Nhất Nghĩa Ðế Chơn Như Diệu Pháp. ”

Ngài A-Nan-Ðà lặng im không
đáp.

Ngài Ðại Bồ Tát Pháp Vương
Tử Ðại Trí Văn Thù Sư Lợi hỏi Ðại Ðức A-Na-Ðà : “Này Ðại
Ðức, tại sao ngài không trả lời câu hỏi của Tịnh Thí ? ”


Ngài A-Na-Ðà đáp : 
“Nữ thí chủ này hỏi về sự học mà chẳng có dính dáng về
ngôn từ, vì thế không thể dùng ngôn từ để giải bày được. Lại
nửa, nữ thí chủ này lại còn vấn nạn về Bình Ðẳng Pháp Tánh. 
Bình Ðẳng Pháp Tánh không phải là ý, vì đã lìa ý thức kiến
giải. Pháp này đã vượt quá các cấp vị của cảnh giới hữu học, làm
sao có thể nói năng đối đáp được vào. 
Ðây là cảnh giới Ba La Mật của Như Lai, của Ðấng Pháp Vương,
mà tôi không thể kham rõ được. “

 

Thỉnh Vấn Chư Bồ Tát:

Công chúa Tịnh Thí cung thỉnh
Ðại Bồ Tát Pháp Vương Tử Ðại Trí Văn Thù Sư Lợi: “Ðấng Thế
Tôn có dạy ngài là vị Ðại Bồ Tát đứng đầu trong tất cả các vị
Bồ Tát về Ðại Trí Tuệ, diệu nghĩa thâm sâu, am tường tất cả pháp.  Kính bạch Bồ Tát, trí tuệ vi diệu đó là do ngài thấu
rõ được chơn như thật nghĩa của mười hai duyên khởi, hay là do ngài
thấu rõ được chơn như thật nghĩa của Ðệ Nhất Nghĩa Ðế ? 
Nếu như ngài dạy rằng trí tuệ của ngài được là do triệt tỏ
được chơn như thật nghĩa của mười hai duyên khởi, thì ngài cũng
đã biết rằng không có chúng sanh nào có thể 
quán thấu, tỏ triệt được chơn như thật nghĩa của lý mười
hai duyên khởi.  Vì sao ? 
Vì mười hai duyên khởi không đến cũng không đi. 
Không thể thấy bằng mắt, nghe bằng tai, nếm bằng lưỡi, ngửi bằng
mũi;  Không thể đắc được lý
đó qua sắc, thinh, hương, vị, xúc, hay pháp. 
Mười hai duyên khởi đó không phải là những cảnh trần hiện trạng
phát sinh luân chuyển.  Nếu như
ngài dạy rằng trí tuệ mà ngài được là do ngài thấu rõ được chơn
như thật nghĩa của Ðệ Nhất Nghĩa Ðế, thì chơn như thật nghĩa của
Ðệ Nhất Nghĩa Ðế là “không có chơn như thật nghĩa ” , và cũng
chẳng có một ai, một pháp gì đó có thể hiểu rõ đó được. “

Ðại
Bồ Tát Pháp Vương Tử Ðại Trí Văn Thù Sư Lợi đáp : “Chổ ta rõ
được là do ta quán triệt được vi diệu nghĩa lý điểm xuất xứ của
hết tất cả mọi vật. ”

Công chúa Tịnh Thí nói : 
“Ðiểm xuất xứ của mọi vật cũng không phải là một điểm. 
Vì vậy, thưa Bồ Tát, trí của ngài là Không-Trí. ”

Ðại Bồ Tát Pháp Vương Tử
Ðại Trí Văn Thù Sư Lợi đáp: “Bởi vì các thứ không thể tỏ rõ
có thể được tỏ rõ bởi Không-Trí, ta có thể giảng nói về điểm xuất
xứ của mọi vật được. ”

Công chúa Tịnh Thí nói : 
“Những gì không thể tỏ rõ được thì không thể dùng sự nói
năng.  Nó vượt quá tầm của nói
năng ngôn từ, và không có chi có thể diễn bày được. ”

Ðại Bồ Tát Pháp Vương Tử
Ðại Trí Văn Thù Sư Lợi đáp: “Vì vậy, những gì đã nói về đó
đều là dùng những ngôn tự tưng ưng đối đãi (như những gì chúng
ta đang nói đây
). ”

Công chúa Tịnh Thí nói : 
“Viên Giác của Như Lai lìa ngôn tự nói năng, vì thế không
thể giảng thuyết được. “(Xác nhận câu trả lời của Ngài Văn
Thù Sư Lợi
).

Công chúa Tịnh Thí cung thỉnh
Bồ Tát Bất Hư Vọng Kiến:  “Này thiện nam, ông đã nói :
” Tôi sẽ làm cho mọi vật nhìn thấy bởi
các chúng sanh mà đang sắp gần bờ giải thoát ở trong thành Xá Vệ trở
thành ảnh Phật Ðà.  Từ
đó, họ
sẽ quyết định được giải thoát mà không còn bị thối chuyển nữa. “Vậy khi
ông nhìn thấy đấng Như Lai, ông nhìn thấy Như Lai qua Hóa
Thân hay ông nhìn thấy Pháp Thân của Như Lai. 
Nếu ông nhìn thấy Như Lai qua Hóa Thân, há ông đã chẳng từng
nghe Ðức Thế Tôn có dạy rằng : “Nếu nhận Như Lai qua sắc, hay âm
tiếng, thì các cái nhận đó đều là tà kiến, và làm như thế thì
thật không thấy được ta. “ Còn
nếu như ngài nhìn thấy Như Lai qua Pháp Thân, thì (thật ngài đâu
có thể nhìn thấy được vì
) Pháp Thân là vô tướng, đồng tợ hư
không.  Vì sao ? 
Vì Pháp Thân thì vượt quá tầm nhìn của mắt và tai, và không
có một pháp gì có thể giúp ông thấy được Pháp Thân. 
Vì vậy, Pháp Thân không thể được do thấy hay do nghe mà tỏ rành
được. ”

Bồ Tát Bất Hư Vọng Kiến lặng
im không đáp.

Bồ Tát Bảo Tướng hỏi Bồ Tát
Bất Hư Vọng Kiến : “Sao ông không đáp lời nữ thí chủ Tịnh Thí ? ”

Bồ Tát Bất Hư Vọng Kiến
đáp : “Tịnh Thí hỏi ta về pháp lìa hữu tình. 
Pháp lìa hữu tình thì không diễn tả được. 
Vì vậy, ta không trả lời đặng. ”

Công chúa Tịnh Thí nói:
“Này thiện nam, ta đâu có hỏi ông  về
pháp lìa hữu tình ? Pháp lìa hữu tình không thể đặt ra để vấn nạn
được.  Khi ông thành tựu
được tất cả các pháp hữu học (và được đạt đến bậc vô học),
ông có thể trả lời được câu hỏi của ta mà không bị một chướng
ngại gì . ”

Công chúa Tịnh Thí cung thỉnh
Bồ Tát Bảo Tướng : “Này thiện nam, ông đã nói : “Tôi sẽ ban bố
bảy báu trân bảo tràn đầy trong tất cả các nhà của sanh chúng trong
thành Xá Vệ mà không phân biệt giàu, nghèo, đẳng cấp. “Thế thì,
khi ông tưởng đến việc cho chúng sanh bảy báu như thế, tâm tưởng của
ông có luyến ái hay không ?  Nếu
ông có một tư tưởng luyến ái, thì ông đâu có khác gì phàm tục ?  Vì sao ?  Vì chỉ
có phàm phu mới tham chấp luyến ái.  Còn
nếu như ông không có một tâm tưởng luyến ái nào trong đó, thì ông
đâu có cho ai cái gì đâu ? ”

Bồ Tát Bảo Tướng lặng im không
đáp

Công chúa Tịnh Thí cung thỉnh
Bồ Tát Viễn Ly Ác Ðạo :  “Này
thiện nam, ông đã có nói : “Tôi sẽ làm cho các chúng sanh trong thành
Xá Vệ đáng lẽ bị đọa vào các đường ác sau khi chết, nay sẽ bị
đau khổ một tí ngay trong cuộc sống này, và sẽ được giải thoát mau
chóng. “Nhưng Ðức Như Lai đã có nói : 
“Quả báo thì bất khả đắc, bất khả tư nghị ” . Thế thì làm
sao mà có chuyện bất khả đắc quả báo có thể được tiêu diệt mau lẹ
?  Nếu nói là quả báo có thể
được tiêu diệt lẹ thì đã sái lời Ðấng Như Lai rồi. 
Còn nếu như quả báo không thể đặng tỏ, thì làm sao ông có
thể làm cho các chúng sanh đó chỉ bị đau đớn ít phần và làm cho
quả báo của họ chóng được diệt trừ ? 
Nếu ông có thể diệt trừ dù chỉ là một quả báo nhỏ, ông sẽ
trở thành chủ nhân ông của Vô Chủ Nhân Pháp Môn, và ông cũng có
khả năng không tiêu diệt được quả báo ấy. “*

Bồ Tát Viễn Ly Ác Ðạo nói
: “Ðó là do thần lực của lời nguyện của tôi lúc trước. 
Tôi có thể làm cho chúng sanh chỉ bị khổ não đôi chút nhưng
quả báo trọng nặng đều bị tiêu diệt cả. ”

Công chúa Tịnh Thí nói:
“Tất cả các pháp (dù thiện hay ác) đều là bổn nhiên tự tánh. 
Không thể bị xoay chuyển bằng thần lực của lời nguyện khi xưa
của ngài. ”

Bồ Tát Viễn Ly Ác Ðạo lặng
im không đáp.


*(Ý
nói chuyện lông rùa, sừng thỏ. Làm sao ai có thể làm chủ nhân của một
thứ vô chủ nhân pháp?  Nếu quả
báo của chúng sanh có thể được diệt trừ bởi một ai khác mà không
phải họ, thì các Ðấng Như Lai Ðại Bi Ðại Từ thương chúng sanh như
con một đã tiêu diệt hết tất cả mọi quả báo cho chúng sanh rồi. 
Như Tổ Hoài Hải Bá Trượng đã có nói một câu chuyển ngữ cho
một vị tăng, vì giảng pháp lầm lạc khi xưa vì vậy bị hóa làm chồn
năm trăm kiếp, : “Không lầm nhân quả ” .  Hễ có, thì phải diệt. 
Hễ sanh, thì phải tử.  Hễ
có tướng đều là hư vọng.  Quả
báo theo chúng sanh chỉ vì chúng sanh còn vọng, mà lại u mê không biết
nó từ đâu mà đến.  Ðã hết
vọng thì tánh Viên Giác tự nhiên hiển bày, tự tại trong mọi cảnh. 
Cho dù quả báo có đến dù lành hay dử, kẻ đã giác ngộ vẫn
an nhiên không bị ngăn ngại một việc gì. 
Như ngài Lục Tổ đã đưa cổ mình ra cho Chí Triệt chém khi Chí
Triệt tìm đến để thích khách ngài, nhưng chém đến ba lần cũng không
hề hấn gì.  Sau đó ngài có
đưa vàng cho Chí Triệt khuyên trốn đi, mà nói. 
Gươm
chánh không dùng được vào việc tà. 
Gươm tà không dùng được vào việc chánh.
 
Ta chỉ nợ
ngươi vàng, chẳng nợ ngươi mạng… ” .
(Pháp Bảo Ðàn Kinh)  Thế thì,
bậc Trí Nhân phải rõ về quả báo mà giữ tâm cho thanh tịnh đừng vọng
động mà sanh tâm làm các việc gì.  Chấp
giữ tánh ác mà làm thì thọ ác quả, còn chấp giữ tánh lành mà làm
thì lại bị thọ quả báo lành.  Hai
cái thọ ấy đều là chướng ngại cho việc giải thoát. 
Ðều tự là oan uổng mang họa vào mình
.
)

Công chúa Tịnh Thí cung thỉnh
Bồ Tát Viễn Ly Ấm Chướng : “Này thiện nam, ông đã có nói : ” Tôi
sẽ làm cho chúng sanh trong thành Xá Vệ gạt bỏ được năm ấm chướng
hoàn toàn. “  Ông nghĩ rằng,
sau khi nhập định tam muội đó, ông có thể làm cho chúng sanh không bị
bao phủ bởi ngũ ấm.  Vậy lúc
ông đang nhập định tam muội ấy, chính ông đang được hay các chúng
sanh kia được giải thoát khỏi năm ấm che ngại ấy ? 
Nếu chính ông đang được giải thoát khỏi năm ấm chướng ngại
ấy, ông không thể đem sự giải thoát ấy lại cho người khác được. 
Vì sao ? Vì các pháp là bất cộng với nhau. Vậy làm sao ông có
thể tháo bỏ năm ấm chướng ngại cho người khác được khi ông đang
nhập định ?  Còn nếu như họ
được tự giải thoát, thì ông thật sự có ích lợi gì đến cho họ
kia chứ ? “

Bồ Tát Viển Ly Ấm Chướng
đáp:  “Tôi có thể làm
được việc ấy bởi vì tôi đem lòng Từ ra trải trước với các chúng
hữu tình. ”

Công chúa Tịnh Thí nói với
Bồ Tát Viễn Ly Ấm Chướng: “Tất cả chư Phật đều thực hành lòng
Từ.  Thiện nam, ý ông thế nào
? Có Phật nào mà không lo lắng việc chúng sanh bị các ấm ngăn che ?  Thế nhưng, vẫn có các chúng sanh bị ngũ ấm che bọc,
ràng buộc trong những quốc độ Phật vậy.
(Nào
có nói lạ kỳ.  Tất cả chúng
sanh đều có Phật Tánh.  Thế nhưng
người thoát hết cả các chướng thì thành Phật, thành Thánh. Còn chúng
ta đây cũng có A Di Ðà Tự Tánh, Thích Ca Tự Tánh, nhưng vẫn bị các
ấm che ngăn.  Ở ngay trong cái Phật Tánh, Viên Giác thanh tịnh,
mà lại bị bao nhiêu thứ phủ che, mà phải bị luân hồi. 
Ðây là cái ý chính đó vậy.
)



Bồ Tát Viễn Ly Ấm Chướng lặng
im không đáp.


Công chúa Tịnh Thí cung thỉnh
Bồ Tát Quán Thế Âm : “Thiện nam, ông có nói : ” Tôi sẽ khiến cho
các tội nhân trong thành Xá Vệ sớm được tự do, những ai sắp bị giết
sẽ được tha, những ai đang khiếp hải sẽ không còn khiếp sợ nữa và
còn được sự vô úy. “ Ý ông
thế nào ? về những việc như sợ hãi, vô úy, lao tù, giải thoát, tử
hình, cứu độ . . .v.v Ông có bị ràng buộc vào những khái niệm, ý tưởng
của những việc đó hay không ?  Nếu
như ông bị ràng buộc, bám víu vào những khái niệm, ý tưởng như thế,
thì ông đâu có khác gì với phàm phu. 
Vì sao ?  Vì chỉ có phàm
phu mới tham chấp khái niệm, các tướng, các cảnh. 
Bởi vì lý do đó, ông không có tham chấp vào các ý niệm này
(Xác nhận là ông không phải là phàm phu). Còn nếu như ông không
dựa vào khái niệm, ý tưởng này, thì ông đâu có thể bố thí cho họ
[sự vô úy] được, làm sao ông có thể trị [sự sợ hãi] cho họ được
?

Bồ Tát Quán Thế Âm lặng im
không đáp

Bồ Tát Trang Nghiêm Biện Tài
hỏi Bồ Tát Quán Thế Âm : “Này thiện nam, sao ông không đáp câu hỏi
của thí chủ Tịnh Thí ? ”

Bồ Tát Quán Thế Âm đáp :
“Nữ thí chủ đây không có hỏi về cảnh sanh và diệt. 
Vì vậy, tôi không thể trả lời. ”

Công chúa Tịnh Thí thưa cùng
Bồ Tát Quán Thế Âm: “Dạ, thưa Bồ Tát, vậy thì ai có thể hỏi
được về cảnh vô sanh và vô diệt được ? ”

Bồ Tát Quán Thế Âm đáp :
“Luận về những gì vô sanh và vô diệt thì lìa ngôn tự, nói năng. 

Công chúa Tịnh Thí thưa cùng
Bồ Tát Quán Thế Âm:  “Nếu
như không có ngôn từ để diễn tả, thì các vị Thiện Trí Thức có thể
lập được ngôn từ để diễn tả một cách tương ưng mà không bị ràng
buộc.  Cũng như Pháp Tánh bổn
lai không ngăn ngại, các vị Thiện Trí Thức không bị kẹt bởi các ngôn
từ. ”

Công chúa Tịnh Thí cung thỉnh
Bồ Tát Trang Nghiêm Biện Tài:  “Thiện nam, ông đã có nói :
” Tôi sẽ làm cho các sanh chúng trong thành
Xá Vệ khi gặp được tôi thì sẽ được các sự biện tài, xuất khẩu
thành thi, khi hỏi đáp đạo pháp một cách êm tai đẹp ý. “Này thiện
nam, về việc biện tài mà ông muốn thí cho họ, có phải pháp được
sanh ra là do nhận thức [ hay là do ái cảm ] ? 
Nếu được sanh ra bởi nhận thức, thì pháp đó không tịch tịnh
vắng lặng, tỷ như các pháp hữu duyên được sanh ra bởi sự nhận thức
và quán sát chuyên cần.  Còn nếu
pháp được sanh ra bởi ái cảm, thì những gì ông cho đều là huyễn
hoặc, giả dối cả. ”

Bồ Tát Trang Nghiêm Biện Tài
đáp :  “Ðây là lời thệ
nguyện của tôi khi xưa lúc tôi mới phát tâm Vô Thượng Bồ Ðề. 
Tôi nguyện rằng tất cả ai gặp tôi đều thành tựu biện tài, xuất
khẩu thành thi một cách êm tai đẹp ý. ”

Công chúa Tịnh Thí đáp lời: 
“Thiện nam, vậy ông còn có cái lời thệ nguyện mà ông đã lập
khi ông bắt đầu phát Bồ Ðề Tâm mà học hạnh Bồ Tát hay không ? 
Nếu như ông còn có, thì ông đã bị xa vào thường kiến (chấp
pháp còn hoài ), còn nếu như ông không có, thì làm sao ông có
thể thí cho họ sự biện tài được ! 
Bởi vậy, lời thệ nguyện của ông không thể dùng đặng. ”

Bồ Tát Trang Nghiêm Biện Tài
lặng im không đáp.

Công chúa Tịnh Thí cung thỉnh
Bồ Tát Bất Hư Vọng Hành :  “Thiện nam, ông có nói :
” Tôi sẽ làm cho các sanh chúng trong thành Xá
Vệ khi gặp tôi sẽ lìa bỏ các độc kiến, và đạt được giải thoát
giác ngộ tối thắng, bất thối chuyển. “Vậy thì sự giác ngộ đó có
hay là không có ? Vì nếu có, thì sự giải thoát đó là hữu tướng
giải thoát, và nếu ông cho đó là thế, thì ông bị sa vào biên kiến. 
Còn nếu như nó thật là không có, thì nó chỉ là huyễn hóa không
thực, và nếu ông cho đó là thế, thì ông cũng bị sa vào biên kiến
luôn. ”


Bồ Tát Bất Hư Vọng Hành
đáp lời công chúa Tịnh Thí : “Nếu mà dùng cho đúng chữ, thì Bồ
Ðề chính là Trí Huệ. ”

Công chúa Tịnh Thí lại hỏi
Bồ Tát Bất Hư Vọng Hành : ” Vậy Trí Huệ sanh hay là không sanh? 
Vì nếu nó sanh, thì nó không phải là kết quả của Chánh Ðịnh,
Chánh Tư Duy tạo thành, mà đó là cảnh trần ý của phàm phu. 
Còn nếu như nó là không sanh thì nó làm sao mà có ? Nếu như
nó không là có, làm sao có thể phân biệt nó được ? Thật ra, làm
sao mà lại có cái Bồ Ðề của Bồ Tát riêng biệt với Bồ Ðề của
Thanh Văn, Duyên Giác, Bích Chi Phật, hay riêng biệt với Bồ Ðề của
Như Lai ?  Kẻ phàm phu vọng chấp,
phân biệt Bồ Ðề, chứ Thánh Hiền thì không như vậy. ”

Bồ Tát Bất Hư Vọng Hành lặng
im không đáp.

Thế rồi Ðại Ðức Tu Bồ Ðề
nói với các vị Ðại Ðức Thanh Văn và các Ðại Bồ Tát rằng : “Thưa
các vị Ðại Ðức, chúng ta nên quay trở về. 
Chúng ta không cần phải vào thành Xá Vệ xin ăn nữa.  
Vì sao ?  Vì những lời Tịnh
Thí nói là pháp thực cho các bậc hiền giả. 
Ngày hôm nay, chúng ta sẽ hưởng vị pháp thực mà quên đi các
món ăn của thân xác đi. ”

Công chúa Tịnh Thí bạch cùng
Ðại Ðức Tu Bồ Ðề :  “Tất
cả pháp đều không có cao thấp, hay dở. 
Trong giữa các pháp như thế, Ðại Ðức đi xin pháp để làm chi
?  Kính bạch Ðại Ðức, giáo pháp
Siêu Vượt Hý Luận là nơi sở hành của tăng sĩ. 
Xin ngài đừng lấy mấy cái hý luận này mà làm hoan hỷ.  Giáo pháp Siêu Vượt Hý Luận chính là pháp Vô Trụ,
vượt khỏi cảnh giới của ai còn trụ ở một pháp nào, ở một cảnh tướng
nào.  Tất cả các Thánh Hiền
đều thực hành pháp Vô Trụ mà không bao giờ bị thối chuyển. ”

Ra mắt Thế Tôn và cầu
Ðạo Vô Thượng
:


Sau đó, tám vị Ðại Thanh Văn,
tám vị Ðại Bồ Tát, năm trăm bà la môn phạm chí kể cả trưởng lão
phạm chí Bạt Ma, Tịnh Thí, Vua Ba Tư Nặc, và đại chúng cùng đi đến
chổ Phật.  Khi đến nơi, họ
đầu mặt đảnh lễ nơi chân Ðức Phật, vây nhiễu quanh Phật ba vòng về
phía mặt, rồi ra đứng một bên mà an tọa. 
Công chúa Tịnh Thí lại nhiễu quanh Phật thêm bảy vòng (thực
hành oai nghi của một vị sa môn đang giữ muôn tế hạnh), 
đầu mặt đảnh lễ dưới chân Ðức Thế Tôn, rồi đứng lên chắp
hai tay cung kỉnh mà hỏi kệ Phật rằng:

Con cung thỉnh Ðấng Ðộc Hành, 
Thế Tôn

Ðấng Ứng Cúng, danh tiếng không
thể so lường

Ðấng ban bố chân lạc niết bàn

Xin dạy cho chúng con: Ðường
đạo của Bồ Tát

Ngồi dưới cây bồ đề

Làm sao ta có thể chiến thắng
quân ma, khắc phục thử thách ?

Con cầu xin Ðấng Ðại Từ
Ðại Bi Thế Tôn

Giảng dạy cho chúng con những
chánh pháp bồ đề

Làm sao ai có thể thành thục

Thanh tịnh, tuyệt hảo, tối thượng
định ?

Làm sao kẻ học đạo pháp

Có thể thành tựu các thần
thông ?

Con hết lòng cầu xin Ðức Thế
Tôn

Xin dạy cho chúng con con đường
chánh hạnh

Làm sao chúng con có thể thành
tựu các tướng tốt

Và được quả báo giàu sang,
thông minh, trí tuệ

Làm sao chúng con có thể nhớ
lại

Ðời quá khứ của con và của
người

Ðức Thế Tôn trí tuệ siêu
việt viên mãn

Biết tất cả mọi sự trong quá
khứ, tương lai, hiện tại

Ðấng Thiện Thệ, Thiên Nhân
Sư, Phật, Thế Tôn

Xin từ bi chỉ dạy cho chúng
con


Nơi sở hành của các chân Bồ
Tát 


Dịch giả tán kệ:

Con khấn bái Thích Ca
Ðức Phật

Ðại Thánh Hiền oai
đức mười phương

Ðức, Danh kia thật khó
nghĩ lường

Thường ban bố hữu tình
chơn lạc

Xin thương tưởng chúng
con phước bạc

Dạy giùm cho an lạc
trở về

Bởi chúng con vui ở cõi

Làm sao biết về nơi
cõi Phật

Thật cung kính con
đầu lạy Phật

Ðấng Trượng Phu, Nhân-Thánh-Thiên

Xin Ðấng Từ chỉ rõ
thực hư

Ðâu là chánh chơn
đường Bồ Tát ?

Như có kẻ mong thành
Bồ Tát

Dưới Bồ Ðề sao phá,
phục ma ?

Khi an thân gốc ấy
thiền na

Làm sao dễ vượt qua
thử thách ?

Con cung kính hết lời
kỉnh bạch

Ðức Ðại Từ, Ðại
Trí, Ðại Bi

Phật Pháp kia bất khả
tư nghì

Xin Phật thí đạo mầu
chánh pháp

Bồ Tát hành mà tránh
lưới ma

Cho chúng sanh theo chánh
quên tà

Phi bốn tướng thành
mà như Phật

Nếu Thiên, Nhân tầm
cầu giải thoát

Cầu tịnh thanh, huệ
trí, định cao

Phải làm sao ? Vào pháp
môn nào ?

Mà có thể gồm bao chánh
định.

Như có kẻ chơn tâm
quyết định

Muốn thần thông vô
ngại mười phương

Mong Thế Tôn Phật Trí
hiễn dương

Thương con trẻ, xiễn
dương phương cách ?

Người tầm đạo đầy
bao thử thách

Gặp Ðạo lành, hạnh
phúc lắm thay

Cúi mong xin hạnh lớn
diễn bày

Cho con trẻ hành theo
chẳng ngại

Ðức Như Lai an nhiên
tự tại

Với băm hai tướng tốt
đủ phần

Chưa kể phần tướng
phụ bao thân

Xin phân chỉ, làm sao
con được ?

Vì con trẻ ngu mê,
độn trược

Xin chỉ rành, quả báo
trược thanh

Phải hành sao được
Trí, Huệ Thanh ?

Giàu, thanh lịch, quyền
uy, vinh hiển;

Xin Phật chỉ chúng
con học cách

Túc mạng thông, quá
khứ, mọi bề

Và tương lai, chẳng
ngại chẳng mê

Mà Bồ Tát học, mê rức
đoạn.

Việc quá khứ ông rành
tơ ngọn

Việc tương lai, ông
thấu ngại nào ?

Nào ai sánh được Phật
bao ?

Toàn Viên Giác Ngộ,
tỏ rành thập phương

Cúi xin Phật nói, xiễn
dương

Sở hành Bồ Tát, con
nương học, làm.

Liền đó, Ðức Thế Tôn ngợi
khen Tịnh Thí rằng : “Hay thay, hay thay ! cũng vì mục đích mang lại
hòa hiệp, hạnh phúc, và ích lợi cho tất cả sanh chúng, và rải lòng
từ bi thương xót đến loài người và thiên chúng mà người có thể
hỏi Ðấng Như Lai những câu hỏi về chổ sở hành của các vị Ðại Bồ
Tát. Hãy lắng lòng, lắng nghe,  suy
nghĩ cho thật kỷ và rõ ràng về việc ta sẽ nói đây. 
Ta sẽ vì người mà trả lời những câu hỏi đó

Tịnh Thí và đại chúng đồng
âm và đồng thời mà bạch Phật rằng : “Dạ vâng, Ðức Thế Tôn. 
Chúng con thật lòng hoan hỷ muốn nghe. ”

Ðức Thế Tôn dạy : “Nếu có
Bồ Tát thành tựu được bốn việc này, thì Bồ Tát ấy có thể hàng
phục được ma chướng.  Bốn việc
ấy là gì ?

           
1. Không ganh tỵ, hiềm nạnh những gì kẻ khác được.

           
2. Không gieo mầm bất hòa, tranh đấu giữa người

           
3. Hãy thuyết pháp cho các chúng sanh, gieo trồng phước huệ

           
   và càng thuyết pháp
cho nhiều chúng sanh thì càng tốt.

           
4. Hãy thương xót và tử tế với mọi loài, mọi vật ”

Ðức Thế Tôn kệ lập lại lời
giảng rằng

Hãy phi đi sự ganh tỵ, hiềm
chướng

Ðừng trồng gieo sự bất hòa
giữa chúng

Hãy dạy dỗ các chúng sanh
gieo trồng gốc đạo đức

Hãy trau sửa và thành thục 
tâm Ðại Từ Bi bao trùm khắp cả mười phương

Ai làm như thế sẽ hàng phục
quỷ ma được…

Dịch giả tán kệ:

Hãy rức bỏ tị hiềm
ganh ghét

Và xét mình đừng chấp
thiệt hơn

Học Ðạo thì rõ tận
chổ chơn

Không bơi dấy, trồng
gây tranh chấp

Chúng hữu tình dù
cao hay thấp

Phải từ bi, dạy phước
huệ lành

Nếu người ưa muốn
đạo lành

Thì ta quyết phải chỉ
rành, độ đưa

Trồng dưa thì được
đặng dưa

Dừa mà nếu muốn, trồng
dưa sao thành ?

Mười phương ráng giảng
đạo lành

Ðược cho sanh chúng
mà thành như ta

Gieo tâm từ ái bao la

Bồ Ðề dưới gốc, hàng
ma dễ dàng

Vì tâm thương chúng
sáu đàng

Ma hàng, thách thối,
đạo tràng vững yên.

Phật lại bảo Tịnh Thí:
“Nếu
Bồ Tát thành tựu được bốn việc sau đây thì có thể thành tựu
được các đại định.  Bốn việc
ấy là gì ?

1)     
Ghê lánh các nhân duyên đưa đến luân hồi

2)     
Hoan hỷ ở nơi vắng lặng một mình

3)     
Tin tấn tu tập đạo lành cho càng thêm phát triển vững mạnh

4)     
Thành tựu và giữ được các pháp mình đã được một cách khéo
léo 


Ðức Thế Tôn kệ tuyên lại
nghĩa trên rằng

Hãy chán ghét các nhân gây
luân hồi

Sống một mình, như sừng của
con tê giác

Hãy ráng tin tấn, như những
thiện nhân hay làm

Và phải ráng đạt được những
gì mình phát tâm muốn đạt

Trí nhân nếu làm được bốn
pháp vi diệu này

Thì đã rất gần Bồ Ðề


Như có ai tầm Vô Thượng
Ðạo Pháp

Và sống với tâm thanh tịnh,
yên lặng

Thì quyết sẽ được nhiều
tam muội

Và sẽ chứng đặng Vô Thượng
Bồ Ðề

Ấy chính là cảnh giới của
chư Phật.

Dịch giả tán kệ:

Hãy xa lánh mối giềng
sanh tử

Từ do tâm tham ái chuộng
vào

Bậc chơn thoát tục
trí cao

Phải xa trần thế nhộn
nhào đấu tranh

Một mình một chốn am
thanh

Không dành, không giật,
nhẹ tanh khỏe mình

Nếu sáng mắt tỏ sình
sanh tử

Tránh ao sâu, đừng
giáng thân vào

Quyết tâm, tinh tấn mạnh
vào

Nguyện kia sẳn đủ,
ắt vào chánh chơn

Thánh nhơn chẳng dám
khi lơn

Bốn việc nói ấy,
đạo chơn phải làm

Thì tâm dù ở tại phàm

Mà tâm đã thoát, nhẹ
mình nào hơn ?

Phận mình đừng chấp
thiệt hơn

Ðịnh mầu muốn biết,
sạch trơn tướng, tình

Ðịnh kia thành ở tại
mình

Nếu mà chuyên, gắng,
thành hình chẳng sai

Bồ Ðề Vô Thượng bổn
lai

Phật mình sẳn có, nhờ
ai chỉ giùm.



Ðức Thế Tôn lại bảo :
“Này
Tịnh Thí, nếu Bồ Tát thành tựu được bốn pháp như vầy thì có thể
thâu tóm được thần lực, biến hóa thần thông.  Bốn pháp ấy là gì ?

1)     
Cảm được nhẹ nhàng, nhu nhuận trong thân thể.

2)     
Cảm được nhẹ nhàng, nhu nhuận trong tâm.

3)     
Không bị ràng buộc bởi một vật gì, một pháp gì.

4)     
Nhận rõ tứ đại thật thể như hư không. ”

Ðức Thế Tôn kệ tuyên lại
nghĩa trên rằng:

Người trí thì nhẹ tâm

Và nhẹ cả thân hình

Không tham ái, bám víu, luyến
mộ vào bất cứ thứ gì.

Và phải quán tứ đại đồng
như hư không.

Khi đã thành thục bốn pháp
đó rồi

Theo tâm lực, đi khắp mọi nơi

Như ý, nếu muốn, trong một sát
na

Hiện ra trong cả ức, ức quốc
độ Phật

Dùng mọi vật để cúng dường
chư Phật đang cư ngụ tại ấy.

Dịch giả tán kệ:

Thiện Trí Thức điều
tâm nhu nhuyễn

Nhẹ tâm rồi, lại cả
nhẹ mình

Sắc, tình, các tướng
thả buông

Lại nhìn tứ đại in
tuồng sắc không

Thông bốn pháp như
ta vừa nói

Không khó gì, thần
biến hiển ra

Chỉ trong có một sát
na

Hiện ra khắp hết Phật
Ðà quốc kia

Hoa thơm báu, đồ
ngon, mặc tốt

Tột cõi trời, dâng cúng
Phật ta

Trí nhân phải ráng học
đa

Tâm mình chơn chánh,
không xa, quyết thành

Ðức Thế Tôn lại dạy tiếp:
“Này Tịnh Thí, nếu như Bồ Tát thực hành được bốn pháp sau đây
thì có thể đặng được ba mươi hai tướng tốt và tám mươi phụ tướng
đẹp đẽ, thù thắng để trang nghiêm thân. 
Bốn pháp ấy là gì ?

1)     
Phải nhổ bỏ tận gốc ái luyến nhơ bẩn, và tránh xa các thói xấu

hạnh
thô của tâm nóng giận.


2)     
Hoan hỷ lau chùi các chùa tháp của Phật và cúng dàng các món

trang
nghiêm, tịnh, đẹp.

3)     
Giữ gìn giới hạnh kỷ lưỡng và giữ giới cho trong sạch, trọn vẹn
trong

khắp cả
thảy thời gian, cả thảy các chổ, và phải luôn luôn chào hỏi trước.

4)     
Không khi dể, bác nhiếc thầy dạy đạo mà phải coi họ như Ðức
Thế Tôn vậy. ”

Ðức Thế Tôn kệ tuyên lại
nghĩa trên rằng:

Ðừng sanh tâm giận hờn người
ta

Hãy dứt khoác không nhận,
hay làm các hạnh bất tịnh, thô lỗ


Hãy lau sạch tháp chùa của
Phật và dâng cúng, lể lạy,

Và dùng các món trân báu,
thanh tịnh để cúng dàng

Hãy quán sát và giữ gìn giới
hạnh cho thanh tịnh,

Và hãy luôn gởi lời chào hỏi
đầu tiên

Ðừng làm chướng ngại, hay móc
nhiếc các thầy dạy đạo

Mà hãy coi họ như là Phật vậy

Powered by ScribeFire.

Một phản hồi

Subscribe to comments with RSS.

  1. Sharkking said, on 2 Tháng Tám 2007 at 9:30 sáng

    Ngồi đọc cái này hả
    anh bị điên mất rồi…


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: