Thuyền lớn, buồm căng, gió lộng

I. Khám bệnh cho giáo dục

Posted in Khác by Peony Hằng Phương on 21 Tháng Năm 2007

1. Bản chất của giáo dục

Chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều định nghĩa phức tạp về giáo dục. Bởi giáo dục là một vấn đề xã hội, có liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp độ… và cứ ở mỗi chỗ đứng khác nhau, ta lại nhìn giáo dục dưới một góc độ khác nhau.

Cái nhìn mà tôi chọn là cái nhìn dưới góc độ kinh tế. Tôi chọn cái nhìn này không phải vì tôi học kinh tế, mà là vì tôi đánh gía kinh tế như là ngành khoa học xã hội mang tính thực tiễn cao nhất, và có khả năng lớn nhất để thay đổi bộ mặt cũng như bản chất của một vấn đề xã hội.

Ở góc độ kinh tế, thì giáo dục là một loại hàng hoá, và như tất cả loại hàng hoá khác, nó cũng có cung và cầu. Điểm cân bằng cung cầu là điểm mà giá cả và lượng giáo dục là tối ưu nhất. Tuy vậy, giáo dục có những đặc điểm riêng, khiến cho thị trường của nó cũng có những khác biệt, đặc biệt với giáo dục Việt Nam.

Thứ nhất, thị trường giáo dục có liên quan chặt với rất nhiều thị trường khác nhau. Trong số đó thị trường có mối quan hệ mật thiết nhất, có nhiều ảnh hưởng tới thị trường giáo dục là thị trường lao động. Như chúng ta đã biết, đầu ra của giáo dục chính là đầu vào của lao động. Như vậy, cầu (tính cả về chất lượng và số lượng) về lao động của xã hội sẽ ảnh hưởng đến cầu giáo dục. Những thay đổi trong cầu lao động sẽ đòi hỏi giáo dục phải thay đổi để thích nghi cho phù hợp với nó. Theo tôi, đây chính là nguyên nhân chủ yếu, một động lực mạnh mẽ, đòi hỏi giáo dục nước ta phải đổi mới.

Thứ hai, thường thì cầu thị trường nhỏ hơn cầu xã hội, có nghĩa là số người sẵn sàng bỏ tiền đi học thực sự cộng với số người đi học phổ cập luôn là không đủ với một xã hội muốn phát triển cao hơn. Thị trường lao động luôn thiếu lao động có trình độ nhưng luôn luôn duy trì thất nghiệp. Và nhu cầu nhân lực chất lượng cao đang là một vấn đề lớn của các nhà tuyển dụng. Hiện nay, thị trường lao động yêu cầu những người thực sự biết làm, có kĩ năng, có kiến thức, yêu cầu kĩ năng mềm… trong khi sản phẩm hiện tại của giáo dục lại là kiến thức, nặng về lý thuyết, thiếu toàn diện, không sát với nhu cầu xã hội.

Thứ ba, giáo dục, vì cầu thị trường nhỏ hơn cầu xã hội và vì vốn được coi là một lĩnh vực phúc lợi, được nhà nước chi phối bao bọc nhiều. Nhà nước nắm trong tay hầu hết phần cung, bắt buộc một phần cầu. Đồng thời, nhà nước cũng nắm quyền chi phối đầu vào của giáo dục như giáo viên, sách giáo khoa và trang thiết bị dạy học… Việc thay đổi những đầu vào trên sẽ dẫn tới thay đổi cung trong giáo dục, cũng là thay đổi bộ mặt của giáo dục.

Thứ tư, việc nhà nước chi phối một cách quan liêu sẽ bóp méo thị trường, tạo ra nhiều hiện tượng tiêu cực. Hai căn bệnh trầm kha của giáo dục Việt Nam hiện nay gồm có : bệnh thành tích và bệnh lý thuyết.

2. Các căn bệnh của giáo dục

Một bệnh thì có nhiều triệu chứng, và khốn thay là bệnh tật nhiều khi không đi đơn lẻ, mà thường tranh thủ lúc cơ thể ốm yếu lại kéo thêm một vài bệnh nữa.

Nguyên nhân chung của các căn bệnh tồn tại trong giáo dục đã được chỉ ra: đó là sự bao bọc của nhà nước trong một thời gian dài. Và cách khắc phục duy nhất chính là để cho giáo dục tự vận động, là xã hội hoá giáo dục.

2.1. Bệnh thành tích

Hiện tượng chạy đua theo thành tích chẳng phải là hiện tượng riêng của giáo dục. Hầu như ngành nào, lĩnh vực nào của xã hội. Nguyên nhân của nó chính là sự bao cấp kế hoạch hoá của nhà nước. Ở hai ngành giáo dục và y tế, sự bao cấp của nhà nước thể hiện rõ rệt và dai dẳng.

Bệnh thành tích cũng bắt nguồn từ cái lề thói trọng văn khinh võ từ thời phong kiến. Nghe nói cái việc trọng âm khinh dương ấy có nguồn gốc từ văn minh nông nghiệp. Người ta thích người văn nhân nho nhã, khinh khi kẻ phàm phu tục tử, người ta tự hào khi trong gia đình có ông nghè, tiến sĩ… kể ra thì cái tự hào ấy cũng đáng khen, nếu nó không kéo theo cái nạn sống chết phải đỗ đại học, phải lên lớp…

Thành tích thì muốn cao mà cái vốn nhân lực, đầu vào… thì giới hạn, lẽ tất yếu phải nảy sinh ra một loạt sự thiếu trung thực trong học tập và thi cử:

Cái sự tiêu cực mà ta thường thấy nhất là phao phỏm, quay cóp. Tôi nhớ là ngày xửa ngày xưa, các sĩ tử luôn lên án, căm ghét, và khinh bỉ với chuyện quay cóp… cái ngày xưa ấy chưa lâu, mới chỉ thời cha mẹ, anh chị mình chứ mấy… thế mà chục năm nương dâu đã thành bãi bể. Bây giờ quay cóp là chuyện “thường ngày ở huyện”. Điều đáng nói ở đây là không chỉ có người đi thi gian lận, mà người coi thi cũng không ưa sự thật thà. Người ta cần nhiều học sinh qua kì thi để lấy thành tích cho trường, cho lớp , cho đồng nghiệp.. cần nhiều bài điểm cao để vinh dự với đời. Ôi chao là danh hão.

Quay cóp, sai thì có sai nhưng chưa là nhục nhã; mà việc chạy điểm, xin điểm… làm tha hoá biến chất người dạy, làm mất thiên lương trong sạch của người học, làm ô uế chốn học đường đã trở thành một việc quá bình thường. Tôi còn nhớ hồi học cấp 3, đọc báo Sinh viên Việt Nam, thấy nói đến 92% sinh viên nhận là có hiện tượng “đi chùa thầy” trong lớp, giật mình, sau đó nghĩ rằng chắc báo nhà ta in nhầm, thừa một chữ số, nhưng tất cả đã thay đổi khi tôi có một chỗ ngồi ở giảng đường. Tôi chẳng tin được vào các thầy cô nữa, và tôi không hiểu khi sinh viên không yêu quý thầy cô của mình, lên lớp vì sợ điểm danh, chép bài và nghe bài vì giáo viên còn kiểm tra vở… khi sinh viên thấy tất cả mọi người xung quanh mình đều là vụ lợi, đều máu tham với hơi đồng, nhắm mắt vì đồng xanh đồng đỏ…khi sinh viên thấy bạn mình cả năm đến lớp có mỗi hôm phụ đạo cuối cùng và cũng không biết ai là cô giáo, thế mà điểm cuối kì cao tít…sinh viên nghĩ gì, và sinh viên sẽ làm gì khi ra ngoài xã hội… sẽ có lúc sinh viên tự hỏi, mình chăm chỉ làm gì, cố gắng làm gì, chạy điểm được thì đi làm cũng chạy được… chân thật làm gì, vì chân thật thì chỉ thiệt thân, đi làm kiếm tiền để chạy điểm thì vừa có kinh nghiệm vừa được điểm cao… nghiên cứu làm gì, suy nghĩ làm gì, để thời gian làm việc gì đó cho có ích hơn…Ta cứ ca thán tại sao bằng cấp Việt Nam không được công nhận, tại sao lại có nhiều cử nhân không kiếm được việc làm. Xin hỏi rằng, đến cái bằng của chính mình mà sinh viên còn không tin được, thì ai sẽ tin vào nó đây? Ở các cấp học dưới, hiện tượng chạy điểm , hối lộ có ít bộc lộ hơn không, tôi không chắc. Tôi nhớ là bố mẹ mình thường xuyên phải lo lắng mỗi khi con đến năm chuyển cấp, và sẵn sàng bỏ ra một số tiền không nhỏ- ít ra với người thuộc giai cấp “vô sản” như tôi – để chắc cho con mình một chỗ ở một trường tàm tạm. Còn mỗi khi con dại thì cái lại phải mang, thôi, bỏ ra một ít, được cái bằng khen cho con, được cái tiếng thơm cho bố mẹ…

Để có cái thành tích cao khi nguồn lực có hạn, người ta lập ra chiến lược thi cử và học tập thật rõ ràng…Tôi nhớ lại hồi cấp 3, khi muốn làm thẻ thư viện tại thư viện Hà Nội với cái mong muốn sáng trong và chính đáng là được tiếp xúc với các tác phẩm văn học kinh điển, tôi đã bị các cô nhân viên đuổi ra một cách nhẹ nhàng. Hỏi thì mới được biết, thật ra các cô cũng thương mình, tiền mỗi năm đóng vào 50000đ, mà cấp 3 thì phải học ôn thi, thời giờ đâu cho thú vui, cho giải trí… Để vào được trường chuyên, lớp chọn, và vào đại học, người ta học đêm, học ngày, học như máy… chưa biết việc nhồi nhét như thế có được cái lợi gì cho xã hội không, nhưng các phòng khám, trại tâm thần và nhà tang lễ thì ngày càng đông vui lên nhờ lứa tuổi vị thành niên. Người ta làm theo khẩu quyết thi gì học nấy. Giáo dục thể chất ư, hơi đâu nhỉ, các cụ chả có câu “đầu óc ngu si, tứ chi phát triển” là gì. Mĩ thuật và âm nhạc ư, để làm gì cơ chứ, thằng nào thi thì đi mà học. Giáo dục công dân, lịch sử…là những môn mà người thích nó – nhưng không thi nó – có thể bị coi là thần kinh “giai đoạn 3”. Tôi không hiểu được hay không muốn hiểu tất cả những điều đó. Sao người ta lại coi thường những môn học dạy đạo đức và dạy chúng một cách máy móc khi mà học sinh của họ đang ở tuổi nghịch ngợm, thích phá rào để khẳng định mình. Sao người ta dạy những môn nghệ thuật một cách nửa vời trong khi bản chất cao quý của những bộ môn này sẽ làm tâm hồn, đạo đức, sự nhạy cảm của học sinh được phát triển hơn… điều đáng buồn là những môn học bị coi thường ấy đều là những môn học đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển phẩm chất và tư cách con người. Thật kì lạ , khi người ta ca thán rằng lớp trẻ bây giờ không thích dân ca, không thưởng thức được âm nhạc cao cấp, chạy theo mốt Hàn, thưởng thức nghệ thuật với thị hiếu tầm thường…, thì bên giáo dục không lên tiếng chịu trách nhiệm; khi cả xã hội thấy bàng hoàng vì những vụ tự tử của học sinh giáo dục không lên tiếng; khi người ta ngạc nhiên sao thể chất thanh niên, thói quen tập thể dục thể thao của giới trẻ kém thế, giáo dục chạy đi đâu mất; cũng có thể vì người ta hiểu rằng làm sao đổ tất cả tội lỗi lên anh giáo dục được, anh ý vừa gầy còm ốm yếu, lại nhiều bệnh nhiều tật thế cơ mà; nên có cái gì liên quan dính líu đến người khác thì bắt người ta gánh hộ thêm cái phần tội xinh xinh, ai mà chả từng chịu ơn giáo dục. Với tư cách cá nhân, tôi xin hỏi rằng, ai có quyền hỏi tội lớp trẻ về gu nghệ thuật của họ, về nhận thức sai lầm hay về sự bốc đồng của họ khi họ không được học, hay đáng buồn hơn là học một cách nửa vời.

Muốn xoá bỏ bệnh thành tích thì điều đầu tiên ta phải làm là không cần thành tích. Chúng ta có nên cho con em mình “ngồi nhầm lớp”, đỗ vớt… hay không; chúng ta có nên trách cứ những người ra đề thi đại học và bắt họ phải làm đề cho cơ bản tới mức dễ dàng; chúng ta có nên bắt con em mình học, học và học đến mụ người… chúng ta nghĩ cho trẻ, hay thật ra là nghĩ cho mình. Đó là câu hỏi mà mỗi người phải suy nghĩ. Và các doanh nghiệp, có nên quá coi trọng bằng cấp trong quá trình xét tuyển. Các thầy cô có nên dung túng và tiếp tay cho những hành vi sai trái… Đặc biệt là người học, có khi nào nghĩ xem mình đang học gì, tại sao mình phải học, mình học vì ai… Chúng ta nên hiểu rằng một điểm kém chỉ là một chấm nhỏ trên toàn bộ bức tranh, rằng cuộc đời thật là rộng lớn, và người ta có thể thành công bằng nhiều con đường khác nhau. Nếu không thể đỗ trường công, ta có thể học trường tư; nếu không thích học trường trong nước thì đi du học…Cái quan trọng không phải ở chỗ ta học được bao nhiêu, mà ở chỗ ta áp dụng những điều đã học được vào cuộc sống bao nhiêu.

2.2. Bệnh lý thuyết

Ôi chao, nếu như bệnh thành tích là cái bệnh chung của các cấp các ngành thì bệnh lý thuyết lại là căn bệnh riêng của ngành giáo dục.

Bệnh lý thuyết cũng có cái bắt nguồn sâu xa từ cái sự bao bọc đến phi lý của nhà nước. Bao bọc, nên lo tất, lo xem người ta nên học cái gì, học thế nào. Mà nhà nước thì ở cao ở xa, nên nhiều khi không rõ những biến chuyển ở xã hội. Hơn thế nữa, lý thuyết nói khó là khó cho người học, chứ còn viết cái đấy thì mới dễ cho người soạn sách; thực tế thay đổi từng ngày từng giờ, chứ lý thuyết, đặc biệt là khoa học sơ cấp thì nghìn năm vẫn thế. Tôi còn nhớ ngày xưa mình thấy bà bán bánh rán bảo 5 hào một cái bánh rán thì rất buồn cười, vì cái 5 hào trong sách toán là cái đồng xu tròn tròn có in chữ 5 hào chứ không phải là tờ tiền giấy 500. Có lẽ gần đây người ta in thêm tiền xu cho nó phù hợp với lý thuyết trong sách giáo khoa, biết đâu đấy. Nghĩ đến thời kì châu Âu chuyển đổi đồng tiền mà thấy thèm, sách giáo khoa phải sửa lại hàng loạt, từ đồng Franc, Dmark… sang đồng tiền mới…

Cũng giống bệnh thành tích, bệnh lý thuyết có nguồn gốc là quan niệm trọng văn khinh võ; đề cao học thuật, bằng cấp, khinh “chân tài thực nghệ”.

Cũng phải kể đến vấn đề kinh phí. Hồi còn học phổ thông, tôi ghét môn hoá nhất trong các môn khoa học tự nhiên. Cứ phải cả ngày ê a học, mà giờ thực hành thì toàn viết phương trình theo lý thuyết, chứ thí nghiệm thì đến giáo viên làm cũng mấy lần mới thành công vì dụng cụ thì thiếu, mà nhiều khi bảo quản không tốt. Ấy còn là ở thành phố, lại là thủ đô đây nhá. Hơn thế nữa, cứ mỗi lần muốn thay đổi, dù ở bất cứ vấn đề gì, cũng tốn kinh phí, đặc biệt là những vấn đề động chạm đến mọi người như giáo dục. Cải cách sách giáo khoa, cải cách cách dạy học… phải nghiên cứu xem điểm yếu của mình ở đâu, xem người ta làm thế nào, điều kiện của người ta có phù hợp với điều kiện của mình không, rồi dạy thử, rồi thí điểm, không thành công thì bỏ đi, mà thành công lại tốn kinh phí để đào tạo và tập huấn… Tôi thấy nhiều cải cách rất rầm rộ, nhưng cải cách về cách học thì lại chưa thấy đâu, không phải vì chưa có biện pháp, mà là biện pháp chẳng đến nơi đến chốn, trong khi người học mới là trung tâm của giáo dục. Học sinh, sinh viên Việt Nam còn thiếu kĩ năng học tập. Và hình như bản thân họ chẳng mấy quan tâm đến chuyện này, vì cách kiểm tra, cách dạy chủ yếu yêu cầu học thuộc lòng mới có được thành tích tốt. Tôi chắc chắn rằng, việc cải cách phương pháp học tập mới chính là trung tâm của cải cách giáo dục hiện nay. Có lẽ người ta chưa giải quyết vấn đề này thực sự vì nó khó khăn và chông gai nhất.

Vì có cái bệnh lý thuyết nên mới có hiện tượng người ra trường thì nhiều nhưng người làm được việc thì ít. Hồi còn có kế hoạch hoá, sản phẩm của kế hoạch thì cứ theo kế hoạch mà hoạt động, sinh viên ra trường được sắp xếp chỗ làm, đâu cũng vào đấy, chất lượng thế nào thì các cơ quan nhà nước chịu. Bây giờ, khi cái cầu lao động thay đổi rồi, giáo dục theo lề thói cũ liệu có phù hợp được không ? Tiết kiệm tiền cho giáo dục khi đào tạo nghề trong nhà trường, thì sẽ lãng phí lớn cho xã hội khi các doanh nghiệp phải đào tạo lại. Sự quản lý của nhà nước không thể làm cho cung giáo dục gần với thực tiễn thì sự tham gia của khu vực phi chính phủ có thể làm được điều này.

Một phản hồi

Subscribe to comments with RSS.


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: