Category Archives: Phật học

Buddhicitta


The issue of discovering the meaning of the life has taken the role of the raison d’être of all philosophy trends and regions in the whole world including the Buddhism for thousand years. This region has zipped the answer of the life destination in a prime definition that this article is going to talk on: Buddhicitta.

First of all, Buddhicitta can be defined as a vow to harvest the complete enlightenment situation without left behind any sentient beings by bringing them happiness and relieving them from suffering. What is also worth noticing is that Buddhicitta takes a necessary part of the way of self development because this vow paints a target to attain and the condition to gain it. This description contains two major factors which concern the life of a Buddhist, especially the disciples who follow the Mahayana tradition. In fact, the enlightenment is described as a situation of freedom in which persons through away all the negative and also the positive items that attracted them before. Furthermore, the total enlightenment is only completed by helping all beings to attain their Buddha situation, that means if a Buddhist has found his enlightenment, he is still on the way and he has not the right to stop until every beings has the same conscious like his. In this case, there is another factor that deserves some words here, Buddhicitta takes the very important role of motivation and setting goal like the seed of a tree.

At last, it might also be noted that by Buddhicitta it means not only a wish to rescue all spirits from paint but also the true quality of each person. There are many reasons that can verify this. Actually every soul acquires the pure essence which is the purpose of all regions. In the opinion of all cultures from the oriental to the occidental, from the past to the present and also to the future, a human being is formed from 3 central parts: the nerve, the heart and the body which resemble 3 chief qualities: wisdom, loving kindness and forces. In addition, from the Buddhism perspective, every sentient being is indeed a Buddha, maybe it cannot recognize this fact due to the darkness of the aim, the foolish of mind but its fundamental nature contains all the excellent sides of Buddha’s. If Buddha hood is the position of a Buddha, then Buddhicitta is relatively the heart of this perfect individual who understands the suffering of others and that is the reason why he acts voluntarily nonstop. All reliable evidences point to one saying that is it doesn’t take a rocket scientist to find this primary quality because it belongs unsurprisingly to every person.

All the evidence supports a conclusion that the Buddhicitta might be one part of the answer of the question on the meaning of the life. However this procedure is only the beginning of an unlimited process to make people become himself, recognize his eternal possibilities and be happy forever.

Đàn ông-những người khốn khổ


Có rất nhiều người khoe với tôi, bằng cách này hay cách khác, rằng họ đã trưởng thành. Đàn ông hay thế. Khoe để muốn có sự kính phục. Hồi trước tôi nghĩ rằng thế cũng tốt, cũng có những người quan tâm đến sự nghiệp của mình, và họ sẽ làm xã hội tốt đẹp hơn là những người ngồi ù lì một chỗ. Nhưng tôi giật mình, khi thấy một phần không nhỏ trong họ đang nói dối người đối diện, và kinh khủng hơn là nói dối chính mình. Đã có những người ngồi hàng tiếng đồng hồ để nhận xét hết người này người khác, cũng chỉ làm nổi bật lên cái vai trò tư sản nhà nòi, cách mạng có giống, con cháu hiếu thảo, tài năng thao lược… nhưng cái sự hiếu thảo ấy, nhìn ra thì đâu phải vì cha vì mẹ, mà vì để người khác nhìn mình như một người hiếu thảo, cái sự thao lược ấy quanh đi quẩn lại để lên mặt với người. Đã có những người che đậy những vết thương, những khiếm khuyết bằng đủ các cách…

Chẳng cần biết thực sự họ cảm thấy thế nào, rằng họ có biết việc họ đang làm hay không, nhưng trong tôi tràn ngập tình thương, có thể nó gần với sự thương hại hơn gần với dạng từ bi thuần khiết. Thương thật, không phải vì họ không. Nhìn xem, cha mẹ họ mong đợi ở họ những gì, sách vở viết gì về cái gọi là chí nam nhi, phụ nữ đi theo những người đàn ông như thế nào… và họ-những con người bình thường, tràn ngập những tình cảm bình thường, cứ phải gồng mình lên, phồng mang lên để con ếch trở thành con bò. Kết cục của con ếch trong ngụ ngôn La Fontaine cũng lặp lại ngoài đời. Có người cứ phồng mang cho đến một ngày, không chịu đựng nổi cái tôi của chính mình. Có người cả đời phồng mang, và không nhận ra điều đó, tiếp tục hành hạ bản thân và hành hạ cả những người xung quanh… Nào, cùng nhìn lại xem, những gì các anh có đem lại cho các anh cái gì. Vinh dự, tự hào, được khen ngợi, được trọng vọng, tiền… và đổi lại là gánh nặng tâm lý, stress, dối trá, và nhất là sự đểu giả… Các anh đến với người ta bằng cái gì, thì người ta đến với anh bằng cái đó. Thường thì những người sống vì cái mà họ vẫn gọi là « danh vọng » cũng thích « cố tình » tìm đến những người danh vọng. Tôi rất sợ nghe cách họ nói chuyện về những người xung quanh… Sởn gai ốc. Tôi thấy mình chẳng có cái danh thế gì mà đọ với đời nên cũng hơi ngạc nhiên khi mình thi thoảng phải tiếp kiến những nhân vật như thế. Về sau tôi nghĩ rằng, họ cần người để khoe, và cái mặt ngờ nghệch của tôi chắc là trông cũng tin tưởng được.

Tôi thấy may mắn vì cha tôi không như thế, bạn trai tôi không như thế… vì nếu không, tôi sẽ phải căng đầu cả ngày để nghe kể các chiến tích : kết giao với ông này ông nọ, đi dập thằng này thằng khác, đánh quả ở đâu ở đâu, cưa cẩm em này em nọ… Tâm lý của bọn trẻ con mới lớn là thích khoác lác, giờ mới biết, cái zụ này đàn ông cũng chẳng khác trẻ con. Để làm gì cơ chứ !

Tôi không yêu cầu người thân của mình phải có được phong độ này nọ, phải biết làm thứ này thứ khác… tôi muốn và cho họ quyền được sống đúng như họ là, để được yêu quý họ đúng như họ là. Con người mới sinh ra chưa biết đến tên gọi của chính mình chứ chưa nói gì đến tiếng tăm, tiền bạc… và không phải vô lý mà người ta bảo trẻ con hạnh phúc hơn người lớn đâu. Trẻ con là đúng như bản chất của chính nó, là trong sáng, thuần khiết, là thơ ngây, vui vẻ. Nếu là con ếch, thì cứ là con ếch , đã sao nào. Con ếch có chỗ đứng của nó, có vẻ đẹp của nó. Và tuyệt vời thay, khi một con ếch biết mình là con ếch, và không thèm giống con bò. Có những con đường cho chú ếch con-ngồi học bài bên cạnh hố bom… để chú ếch làm chú bò ngưỡng mộ…

Dù bạn không cao nhưng người khác vẫn phải ngước nhìn…

Đạo nào tối thượng


Đạo nào tối thượng

Một vấn đề hay, một vấn đề gây tranh cãi

Một vấn đề dở, một vấn đề tranh cãi chẳng giải quyết được vấn đề gì

Thường thì người theo một tôn giáo luôn bênh vực tôn giáo của mình, cho nó là « thiên hạ đệ nhất đạo », nói tôn giáo là để khoanh vùng, chứ nói chính xác ra, đó là tư tưởng, hay hệ tư tưởng. Xét cho cùng, nó là điều bình thường.

Vì tâm trí, thứ vẫn thống trị suy nghĩ của chúng ta đã tạo ra nó. Mà tâm trí là ai, là thằng đầy tớ phản chủ khốn nạn nhân danh lý tưởng, tình yêu… để sai khiến ta. Nó dùng đủ thứ luận điệu mĩ miều che giấu đi cái tên thật sự của nó : Cái tôi-thứ nhà ngục chung thân cho cả xã hội loài người.

Khi chưa biết đến thứ tôn giáo nào, người ta bị giam trong tâm trí rằng ăn ngon mặc đẹp là tốt, rằng tiền nhiều chức cao là hay… ấy là ví dụ thế, nhiều người như văn nghệ sĩ thì thích sống phiêu diêu và ngợi ca khí phách của mình, nhiều người chết đi sống lại vì bóng hình ai đó… Khi biết đến cái gọi là tôn giáo, hay một hệ tư tưởng nào đó, người ta- hay đúng hơn là suy nghĩ cho rằng những thứ nó muốn trước kia không đáng giá như nó tưởng, và có thứ đáng giá hơn. Hình tượng hóa vấn đề, thì đó là việc đem đập đi một cái lồng có cơm ăn áo mặc, tình yêu, danh vọng… để chui vào một cái lồng khác mang tên tư tưởng, tôn giáo…

Nếu để ý đến hoàn cảnh ra đời của các tôn giáo trên thế giới, điểm tương đối chung, đó là các tôn giáo thường ra đời tại những nơi đang có nhiều mâu thuẫn trong xã hội. Mâu thuẫn, phát triển đến mức nào đó, sẽ đòi hỏi sự giải quyết- và tôn giáo là một trong những cách giải quyết tốt. Moses bắt đầu nâng cây trượng của mình chống lại ngọn roi da của dân Ai cập ; Đức Chúa Jesus ra đời trong những ngày đen tối nhất của người Do Thái dưới mũi giáo của dân La Mã ; Khổng tử rong ruổi khắp Trung Hoa khi người dân rên xiết trong chiến tranh ; Lão Tử ẩn mình sâu trong thời loạn lạc… Nhìn chung, các tôn giáo còn tồn tại với thời gian, đều có đặc điểm chung là hướng con người tới cái thiện, có thể thiên về trí tuệ như đạo Phật, đạo Lão, có thể thiên về tình yêu như Thiên chúa, thiên về niềm tin như Đạo Hồi… Tôn giáo, có thể coi như thuốc chữa tâm bệnh cho nhân loại- nói theo kiểu tiêu cực của cụ Mác là thuốc phiện của nhân dân. (theo tôi thì chủ nghĩa duy vật biện chứng, về mặt nào đó cũng là tôn giáo khi người ta mù quáng và cực đoan hóa nó, và nhận xét của Mác chứng tỏ rằng cụ chỉ đọc lại những gì mà các học giả viết ra từ những gì mà họ đọc lại từ những người khác…)

Có 6.5 tỉ người sống trên Trái Đất thì có 6.5 tỉ loại tâm bệnh khác nhau, đủ mức độ nặng nhẹ khác nhau, thích hợp với 6.5 tỉ loại tâm bệnh đó, đáng lý ra phải có 6.5 tỉ loại thuốc. Nhưng không cần nhiều thế, chỉ có chục loại thuốc chính, cứ thế, người ta chữa bệnh cho nhau. Người nào duyên với loại thuốc nào, thì dùng loại đó, có thể nó chữa được bệnh, có thể nó lại thêm bệnh cho người, chuyện này sao lại trách người sáng chế ra loại thuốc ấy, trách loại thuốc ấy, mà muốn trách, nên trách mình trước tiên.

Tâm bệnh là chuyện tâm bệnh, điều tôi muốn bàn đến, đó là loại tâm bệnh « Chấp đạo ». Người mắc cái bệnh này có một dấu hiệu chung là cho rằng loại đạo mình theo là số một « number one sắp có mặt tại Việt Nam ». Bệnh này do thuốc chữa mang tới, người ta tưởng rằng thuốc chữa được bệnh cho mình, thì chữa được bệnh cho tất cả mọi người, nên chê thuốc mọi người dở, có biết đâu thuốc hay cốt ở hợp bệnh chứ không phải ở chỗ nó đắt hay rẻ, nó thuộc dòng nào, nó là thuốc bổ hay thuốc kháng sinh…

Anh ôm thuốc của anh, anh lập nên một cái cộng đồng sử dụng loại thuốc của anh, và anh ngồi đó, ca tụng nhau, và chê những người bị bệnh đang dùng thuốc khác : thuốc của bọn mày chẳng có giá trị gì cả, thuốc tớ là thuốc kháng sinh, xin hơn loại thuốc bổ nhà ấy (người ta bệnh khác, uống kháng sinh không đúng, nó kháng bệnh luôn)… Anh nghĩ rằng thuốc của anh chữa bệnh rốt ráo hơn, không biết rằng chữa hết cả bệnh, thì cái bệnh nghĩ rằng thuốc của anh tốt cũng là một bệnh. Và vì anh nghĩ là thuốc của anh tốt nhất, hội nhà anh hay nhất, nên cái hay của nhà khác anh không học được, và cái gì anh thấy ở họ, anh cũng gán ghép những điều không hay.

Quan điểm của tôi, là tôi không đi theo bất cứ một tôn giáo nào cả. Có người sẽ giật mình, vì tôi hay chia sẻ quan điểm của Gotama. Không có gì mâu thuẫn cả, đạo Phật không phải là một tôn giáo hay không bao giờ là một tôn giáo. Đó là một cách sống, một sự lựa chọn.

Khi anh dùng những từ ngữ như : phải theo tôi, không thì bạn sẽ thế này, bạn sẽ thế kia… đó là cách phát biểu của tôn giáo. Nhưng khi anh cho người ta quyền lựa chọn, và tôn trọng lựa chọn đó, anh đang đi trên một con đường mà ai cũng đi-dù là trước hay sau. Con đường đó chỉ mượn tên là đạo, và đó chỉ là con đường, không hơn. Khi anh cho rằng con đường đó là tối thượng, là tất cả, thì anh đã mất đi khả năng tiến tới đích, vì anh thích con đường hơn cái đích, đồng thời, anh mất luôn cả con đường, vì anh đã nhầm đường là đích.

Đó là chưa kể đến việc anh không có được đủ cơ duyên hạnh ngộ với những người hiểu rõ và đã đi trên con đường đó. Không sinh ra thời có người giác ngộ là một điều bất hạnh-ngay cả khi người ta hiểu người giác ngộ với cái ý nghĩa thoáng nhất-tức là những lời dạy của họ. Hàng nghìn năm đã trôi qua, và Thượng đế không còn ở lại trên trái đất với loài người. (tôi dùng Thượng đế như từ ngữ thay thế cho chân lý, sự giác ngộ, người giác ngộ…) Tất cả những gì chúng ta có là hàng tập giấy dày mang tên kinh điển, một vài nhà truyền giáo-mà không phải ai cũng là sứ giả của Thượng đế, không phải ai cũng nhìn thấy Thượng đế. Và những lời dạy của chân lý đã biến thành đống phế liệu, nguy hiểm hơn là biến thành những bức rào-tựa như một tấm bản đồ rách nát- càng ngày càng xa nguyên bản. Kể ra thì tấm bản đồ quý thật, nhưng nếu anh dùng không đúng, nó sẽ dẫn anh đi sai đường, và càng ngày càng sai đường hơn nữa. Việc anh có bản đồ lại gây ra sai lầm nghiêm trọng hơn-đó là anh nghĩ rằng anh có bản đồ thì hơn những người chưa có bản đồ, và bản đồ của anh hơn bản đồ của người khác, dù nó rách nát như nhau. Thậm chí không cho anh nghĩ xem bản đồ có thích hợp với lộ trình của anh không, và tệ hơn là anh không biết thật ra anh đang đứng chỗ nào… Anh không hiểu rằng chẳng những bản đồ của anh rách nát, mà nó còn bị sao chép nhiều lần, và người nào chép lại bản đồ cũng, dù vô tình hay cố ý, làm sai khác bản đồ đi một chút. Đến tay anh thì nó khác quá nhiều so với ban đầu, bản đồ trong tay người khác cũng thế.

Trong sự việc này ai là người đáng thương nhất- những người thấu hiểu chân lý đã vẽ ra tấm bản đồ đầu tiên, bây giờ đang bị đổ oan bởi những thành kiến lệch lạc bị gán ghép là của họ ; những người thêm bớt và lý giải khác so với nguyên mẫu ; hay chính là người đang sùng bái cái bản đồ và sùng bái con đường, đang ngồi ỳ một chỗ quảng cáo với người qua đường là cái bản đồ của tôi đúng nhất…

Ừ, thì cứ coi như anh may mắn gặp được cái bản đồ giống nguyên mẫu (chắc chắn không có chuyện này) thì có vấn đề nữa cho anh, đó là hàng nghìn năm đã trôi qua, hoàn cảnh sống của anh khác thời gian người ta lập bản đồ. Như Ngũ giới để được sinh làm người của đạo Phật : vốn là : cấm uống rượu, sát sinh, tà dâm, nói dối, trộm cắp… không thể không đổi trong thời đại rượu thuộc loại đồ uống « con nhà lành » như hiện nay. Phật nhìn thấy được tương lai thật đấy, nhưng vào thời của cụ mà nói estacy, hồng phiến, cà phê

Vì tôi cảm thấy quan điểm của đức Phật hợp với mình, và chữa được bệnh của tôi, nên tôi theo ngài. Nếu đức Phật hiện lên và nói với tôi rằng : cô phải theo con đường của tôi, không thì cô sẽ đọa địa ngục. Lạy chúa, chắc chắn tôi sẽ không nghe lời ông ta, và tôi sẽ cãi lại ngay, nếu cần, tôi sẽ phạm nhiều tội hơn thế. Tôi không thể làm điều gì đó thiếu đầu óc cho một người chỉ vì ông ta tài ba, nổi tiếng, giàu có, đẹp trai… hay bất cứ thứ gì tương tự. Dù rằng tôi là kẻ cả tin nhất trong lớp người cùng tuổi. Tôi nghĩ rằng trong trường hợp đó, việc không coi Phật như người đã giác ngộ đáng được các hàng thiên nhân ủng hộ. Vậy tại sao Phật lại nói rằng phải tin kính ngài : vì căn cơ chúng sinh sai khác. Với những người chưa biết con đường nào là đúng trên cả tấm bản đồ, cách tốt nhất là bảo với họ rằng : đường này tốt, những đường khác sẽ gặp nguy hiểm này nọ. Nhưng với những người đủ trình độ tự suy nghĩ, nói thế chẳng ích gì, mà đáng lý ra còn phải phê bình ông thầy vì chẳng hiểu học sinh của mình.

Tôi đã viết như sau cho người thầy đã khai tâm cho mình, hiện đang ở Thái Lan tu Vipassana : « Viết đến đây thấy rất thương mấy vị giáo chủ, vì ngôn ngữ đầy giới hạn, thời gian bao phủ, người tiếp nhận thì có cái bản ngã to oành nên cứ giảng giải ngày càng lắt léo, thành ra các ông có chứng người ta cũng không nghĩ là chứng, có sai cũng không bị phát hiện là sai. Đạo nào cũng có sai lệch sau hàng nghìn hàng vạn năm lịch sử. Thiên chúa giáo từ chỗ có nói luân hồi, giờ thì thành chỉ có một kiếp với ngày tận thế… và đủ chuyện linh tinh phục vụ cho mưu đồ chính trị. Tôn giáo dính vào chính trị thì sẽ bị bóp méo đi rất nhiều, nhưng sức bành trướng cũng mạnh hơn như thiên chúa giáo và hồi giáo. Phật giáo có lẽ sai biệt lịch sử ít hơn, nhưng chắc chắn cũng đã khác nhiều bản gốc. Phật cũng cho phép thay đổi pháp cho phù hợp… con nói thế vì thầy vẫn chưa hiểu ý mọi đạo đều bình đẳng mà con nói hồi trước.

Như thiên chúa, con nghĩ rằng việc giải mã thánh kinh khó hơn kinh Phật, vì ông Jesus đã dùng quá nhiều hình tượng để che đi tầng trí tuệ của ông ý. Như khi ông ta nói : Thượng đế sinh ra ta : con không nghĩ rằng thượng đế là lão già râu dài mặc áo thụng, mà thượng đế có thể là ý chỉ của Chân lý, chân tâm… và ông ta có thể nói Thượng đế là ta. Tin vào Thượng đế là được lên Thiên Đàng thì cũng không khác với ý chỉ của Pháp Hoa. Có nhiều câu truyện kì bí làm kinh thánh giống như truyện cổ tích, nhưng nếu giải mã theo cách nghĩ khác với cách hiện nay mọi người vẫn nghĩ, thì kết quả sẽ khác rất nhiều. Đó là chưa kể đến việc cả con lẫn thầy đều là ngoại đạo so với người, thì những gì biết về kinh thánh cũng chỉ là trích đoạn. Nhớ năm trước có người bảo con rằng con khinh những người tàn tật chỉ vì con nói rằng thân xác không đáng quý, con thấy rất thông cảm với các đạo sư, vì xuyên tạc lời lẽ là việc đại tài của kẻ tiểu nhân.

Với mỗi hoàn cảnh, bồ tát cần nói khác. Với thời kì châu Âu lúc đó, con thấy dù có là quân nhà Phật cũng nên nói giống Jesus. Châu Âu lúc đó giống Ấn Độ thời Phật ở chỗ cảnh khổ, cảnh phân biệt giai cấp, có chiến tranh… nhưng không có nền tảng triết học và thần học mạnh như Ấn Đô, Jesus kết hợp thiền và xưng tội là tốt lắm rồi, bảo cụ dạy Minh Sát chắc nô lệ cũng chẳng ai đủ thời giờ và an tĩnh mà thiền và trước đó dân châu Âu cũng không biết đến thiền, phân biệt trong xã hội châu Âu là phân biệt sắc tộc, và trị nhau không phải bằng luật lệ như ở Ấn mà bằng treo đinh lên thập tự… tình hình cũng tương tự với Lão Tử… Đương nhiên có nhiều tôn giáo thật sự là đống giáo điều vô lý, nó có điểm chung là phục vụ cho một tầng lớp nào đó, và sự mù quáng dựa vào niềm tin… Với những tôn giáo tương đối trong sáng, thì càng về sau càng bị bóp méo bởi chính những người truyền bá nó, và bởi chính trị. Con nghĩ chẳng nên nói tôn giáo nào hơn tôn giáo nào, Phật hơn Jesus hay Jesus hơn Phật. Vì nhìn ở phương diện này, ông nào cũng chịu chung một hoàn cảnh. Và con thấy rõ rằng con đọc thánh kinh thì ra kết quả khác với nhiều người đọc thánh kinh, bộ kinh không có tội, chỉ có người giải mã nó có vấn đề thôi. Truyện ông trưởng giả cứu con trong kinh Pháp Hoa cũng khó hiểu nếu đặt riêng ra mà không có lời bình đúng. Cảm ơn Anan vì đã cố tình không đắc đạo sớm, nếu không con chẳng có bản kinh tương đối chính xác mà đọc.

Thầy chắc nghe qua về anh Thi, bạn con giới thiệu cho Hiền để dùng năng lượng chữa bệnh. Anh Thi học Sahaja yoga. Đặc điểm của môn này là đánh thức hỏa xà, và ai tìm đến nó với mục đích gì từ nhỏ đến lớn, từ tầm thường đến giác ngộ đều được. Vấn đề ko phải ở chỗ môn học. Mà ở chỗ bà Shri Mataji được những người theo Mật tông nói rằng đó cũng là một hóa thân Phật. Về cuộc đời thì bà cũng giống người thường, thậm chí là còn tham gia chính trị nhiệt thành, có đến 2 con… và pháp môn mở luôn luân xa 1 thì đây là duy nhất. Nếu bảo pháp môn này ngoại đạo thì cũng có lý, vì có phải do Thích Ca nói ra đâu, nhưng… những chuyện phi thường của các Lạt ma vẫn đáng tin cơ mà. Hồi trước con cũng nghĩ bà Mataji tồi tệ lắm đấy.

Còn nếu xét về tác dụng cho xã hội, thì con lên án đạo Khổng, vì càng ngày nó càng tạo ra nhiều kẻ đểu giả và bản ngã to hơn. Có thể nó đi ngược lại quan điểm của một đất nước khổng giáo, nhưng chính quan điểm của nhà nho là quan điểm phi nhân quyền nhất ở đất Việt Nam. Đa số đau khổ mà con đã nghe đều do mâu thuẫn giữa nhân bản của con người và sự che đậy của đạo Khổng. Ai cũng muốn mình là quân tử, trong khi họ cũng có phần tiểu nhân, thế mới mâu thuẫn và giả dối. Chẳng thà có cái gì cũng được chấp nhận, thì cái xấu nó tự phơi ra, rồi tự sửa được. Chứ che đậy thì càng ngày càng nặng bệnh hơn. Giống như ở quê bây giờ tống cái toilet ra khỏi nhà, chỉ tổ sinh ra cái phòng cho ruồi ở. Cứ đàng hoàng mà chấp nhận một phần tất yếu của cuộc sống thì còn chăm lo dọn dẹp nó được. Bên cạnh đạo Khổng còn có chủ nghĩa duy vật giáo điều, nhưng con chỉ nói đến đây thôi không phạm húy, từ ngữ không diễn tả được, ngộ nhỡ bị cắt xén thì mệt lắm. »

Phật thì nhìn ai cũng là Phật

Bồ tát nhìn ai cũng là Bồ tát

Chúng sinh nhìn ai cũng là Chúng sinh…

Trước khi nói đường người khác sai, thử ngó lại xem đường của mình đã đúng chưa. Dấu hiệu của một con đường đúng đơn giản lắm : đó là hạnh phúc. Chân lý không có gì xa lạ với hạnh phúc, muốn hạnh phúc anh phải có Tự do-anh phải nhìn thấy Sự thật như nó đang là, và Sự thật với Tình yêu không hề là khác.

Cũng như những pháp hữu vi, đạo-con đường đó có khởi đầu và kết thúc, có sinh có diệt… chỉ có chân lý là vĩnh hằng, hãy cùng lên đường, tôi tin rằng, rồi sẽ có lúc chúng ta gặp nhau. Có thể con đường sẽ mang những cái tên khác, nói đúng ra là mỗi người có một con đường khác hẳn, nhưng đích đến như nhau. Đó là điều mà đức Thích ca đã làm, đó là điều mà Moses và Jesus đã làm, đó là điều mà các đức Phật ba đời đã làm… trước tiên, hãy mong muốn, hãy lên đường, và con đường của bạn, sẽ hiện ra.

Bí mật Tình Yêu (2)


Nhưng có cách êm đềm hơn để học cách yêu, bài học về sự bất tử do tôi nghe được từ một người anh, người mà tôi có lẽ sẽ kính trọng và biết ơn vĩnh viễn. Nội dung cụ thể như sau : trong tâm hồn mỗi người, đều có hai dạng tâm thức : Vọng tâm vô thường và Chân tâm vĩnh cửu. Bạn yêu bằng thứ tâm thức nào, thì kết cục của tình yêu sẽ là như thế. Vọng tâm luôn thay đổi : hôm nay nó thích cô tóc dài, mai nó thích cô tóc ngắn… Yêu bằng vọng tâm, trước sau gì cũng đem lại sự bất toại nguyện. Cứ cho là sở thích của bạn cố định, thì bản thân vọng tâm của người bạn yêu cũng tán loạn như cái đèn cù, bạn có thể lúc thì yêu người đanh đá, lúc thì yêu người hiền dịu được không ; sự thật còn kinh khủng hơn thế, vì vọng tâm của bạn cũng là thứ luôn luôn thay đổi, và hai cái vọng tâm đòi bắt được nhau, đòi mãi mãi trường cửu với nhau là không bao giờ có. Nếu bạn nhận ra bạn có một Chân tâm vĩnh hằng, sống với cái tâm ấy, và nhận ra người kia cũng có một Chân tâm, thì tình yêu với bạn là bất tử.

Lạ lùng đúng không, vọng tâm như ánh trăng đáy nước, đẹp thật đấy, nhưng phụ thuộc vào mặt hồ, mặt hồ lặng thì nó sáng, mặt hồ đục thì nó mờ ; đó là lý do người ta cho rằng người này đáng yêu hơn người kia, người ta bị thôi thúc phải đi tìm người này thay thế người khác, họ quên mất là khi sóng nổi lên rồi, thì cái mặt hồ nào cũng xấu như cái mặt hồ nào, và ánh trăng biến mất trong sự vô vọng của bạn. Có thể bạn nghĩ rằng mình có sự lựa chọn trong tình yêu, nhưng sự thật là không ai được lựa chọn, nếu chúng ta chỉ biết nhìn cái mặt hồ, chúng ta chịu sự chi phối của luật Nhân duyên. Có thể bạn may mắn, tìm được cái hồ đẹp, nhưng có thể bạn không may, và với tính cách của con người, họ ngồi hồ này, trông hồ nọ, chẳng bao giờ họ hưởng thụ được vẻ đẹp thật sự ở chỗ họ đang ngồi, vậy thì may hay không may, cũng giống nhau thôi. Một luật nữa của nhân duyên là bạn chỉ gặp những cái hồ nhất định tùy vào những gì bạn đã làm trước đây. Và trong cái đống lộn xộn ngẫu nhiên đó, bạn có thể biết được cái hồ nào phù hợp nhất với mình không. Như đã nói, bạn còn chẳng biết được vẻ đẹp của một cái hồ cả khi bạn đã ngồi ở đấy, chứ chưa nói đến việc phải so sánh hàng loạt hồ khác nhau… Đấy là lý do tại sao tình yêu không tồn tại thật sự, tại sao nó luôn đem lại sự bất toại nguyện, và tại sao người ta phải chia tay. Tôi đã viết mấy entry về sự ích kỉ của tình yêu, về sự vô thường và vô căn cứ của nó, tôi thấy nó giống như con đường Tiểu thừa : nhận ra sự giả dối trong những tình cảm tưởng rằng tốt đẹp. Tôi phải giật mình, khi nhận ra rằng trong những bài viết ấy, tôi đã đề cập đến Vô Thường, Vô Ngã, Khổ, Không : Vô thường vì luôn thay đổi, vô ngã vì không có chỗ dựa, vì vô căn cứ… Nhìn vào sự thật để buông cái giả dối, vốn giống như sợi xích lớn cầm tù. Bạn thích ánh trăng đáy nước, vì nó đẹp, và khi có nó, bạn cứ đứng một chỗ ngắm nó, bạn làm mọi việc vì nó, bạn mất sự tự do của mình.

Bí mật Tình Yêu (1)


Tôi đã dùng khá nhiều công sức để chuyển hóa những gì khô cứng, khó tiêu thành những gì chấp nhận được, những gì mà theo cảm quan, tri kiến của con người bình thường là có thể hiểu, có thể làm theo mà không bị nhìn như cái gai trong mắt những người còn lại. Cả một chặng blog dài mười tháng, bắt đầu với entry Ta là Tình Yêu, và bây giờ là Bí mật Tình Yêu, là con đường bắt đầu bằng Đại thừa, tiếp theo là Tiểu thừa và cuối cùng lại là Đại thừa. Tôi không biết đây có phải là bài kinh cuối cùng như bộ Pháp Hoa không, nhưng tôi sẽ cố gắng chỉ cho tất cả mọi người hai con đường để chấp nhận được nhau : cái chết và sự bất tử ; tôi sẽ đem đến bức vẽ Ánh trăng hồ nước, và tả lại Mặt trăng. Tôi đưa cho các bạn vị thuốc, dùng thế nào, đấy là việc mỗi người, dùng đúng, thì ít nhất các bạn sẽ chấp nhận được hoàn cảnh, nhiều thì không bao giờ cãi nhau ; dùng sai thì trách nhiệm không phải thuộc về người chế thuốc, mà là ở kẻ kê đơn. Thật ra tôi chọn tình yêu như một đối tượng quan sát, không chỉ vì tôi là người tương đối có trải nghiệm, mà còn vì tình yêu có khả năng khuyếch đại tình cảm, nên nó trở nên dễ nhìn thấy, cuối cùng, là vì Tình Yêu và Trí Tuệ thực chất chỉ là hai mặt của Sự Thật mà thôi. Tình yêu, là đại diện của tình cảm con người, nếu giải quyết được vấn đề của nó, con người có thể giải quyết được phần còn lại của tâm hồn.
Con người dễ học từ đau thương, nên cái chết sẽ được nhắc đến đầu tiên.Tưởng tượng về cái chết không hề khó, hãy nghĩ đến cái quan tài, trong đó người mà bạn đang tức giận nằm im, tái mét và lạnh ngắt. Lúc đấy bạn sẽ dễ dàng tha thứ cho tất cả lỗi lầm của con người đó, dù nó lớn đến đâu. Nghĩ đến cái chết, là mở đường sống cho chính mình. Khi bạn nghĩ người nằm trong đấy chính là bạn, bạn sẽ có cách đối xử khác với cuộc sống. Bạn sẽ dễ dàng chấp nhận một gương mặt khó ưa, vì biết đâu sẽ chẳng có ngày gặp lại ; bạn sẽ chăm chút làm những việc mà bạn muốn làm dù trước kia bạn cho rằng nó thật vô bổ, và rằng bạn còn nhiều thời gian. Bạn sẽ biết bạn muốn và thật sự ao ước điều gì cho cuộc sống của mình, bạn sẽ cảm nhận tận cùng những rung động muôn màu của cuộc đời. Lúc đó, bạn sẽ không chỉ tha thứ cho một người, mà chấp nhận tha thứ cho nhiều người, chấp nhận tha thứ cho mọi quá khứ, mọi hoàn cảnh, bạn sẽ sống hết mình, và nhận ra, sống hết mình, chính là hạnh phúc. Hệ quả của sống hết mình, chính là tình yêu, là sự vị tha, là tỉnh thức…